Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN T.P PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HSST

Ngày: 15/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Hải;

Ông Dương Đức Chung.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thương Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 04/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024; đối với:

Bị cáo: Cứ A C

(tên gọi khác: Không), sinh năm 1974.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12. Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông Cứ A S (đã chết) và bà Thào Thị D; Có vợ là Giàng Thị T; Vợ chồng có 01 con chung sinh năm 1998.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày tạm giữ từ ngày 25/3/2024, đến ngày 02/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị D1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm pháp lý nhà nước tỉnh T (Có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Giàng Thị T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Bản H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T: Ông Khuông Thanh Đ - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm pháp lý nhà nước tỉnh T (Có mặt).

* Người chứng kiến:

  • + Anh Hà Văn T1, sinh năm 1977; Địa chỉ: TDP G, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.
  • + Anh Nguyễn Viết T2, sinh năm 1982; Địa chỉ: TDP L, phường H, T.P P, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh T3, anh T2 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút, ngày 25/3/2024, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an thành phố P đang tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Cứ A C có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, bên cạnh Chờ có 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 21-HA 021.72 đang đỗ. Tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với Chờ thì phát hiện, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Chờ đang mặc có 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục; tại túi quần phía trước và phía sau bên trái C đang mặc số tiền 79.000 đồng (Bảy mươi chín nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và tạm giữ chiếc xe mô tô BKS 21-HA 021.72 để giải quyết theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân khối lượng toàn bộ số chất rắn dạng cục màu trắng đục thu giữ của Cứ A C được 0,155 gam, cho toàn bộ số chất rắn dạng cục màu trắng đục vào phong bì ký hiệu K gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 471/KL-KTHS ngày 28/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất rắn dạng cục màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng là: 0,155 gam.

Quá trình điều tra, Cứ A C khai nhận: Ngày 25/3/2024, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 21-HA 021.72 đi từ khu vực chợ S1, phường Đ, thành phố P đến khu vực đường gom khu công nghiệp T, phường H, thành phố P để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, C nhìn thấy ở trong cống chui đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên hướng từ đường gom khu công nghiệp đi đến đường dân sinh có 01 người nam giới đang đứng ở đây (Chờ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này). Chờ đi đến chỗ người nam giới đang đứng rồi hỏi mua ma túy Heroine của người nam giới với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), người nam giới đồng ý và đưa cho C 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông chứa ma túy Heroine. Chờ nhận túi ma túy từ người nam giới rồi cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc và đưa cho người nam giới số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), người nam giới cầm tiền rồi rời đi. Sau khi mua được ma túy, C điều khiển xe mô tô đi ra khu vực nghĩa trang gần đó, đỗ xe rồi ngồi ở lề đường dân sinh và chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ số ma túy vừa mua được cùng số tiền 79.000 đồng (Bảy mươi chín nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 21-НА 021.72.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong chứa 0,145 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho; số tiền 79.000 đồng (Bảy mươi chín nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 21-HA 021.72 được chuyển đến tài khoản và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 109/CT-VKSPY ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Cứ A C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; Thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên toà luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cứ A C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cứ A C1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định: 01 phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong chứa 0,145 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu lưu kho;

Trả lại cho bị cáo C2 A Chờ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh và 79.000 đồng (Bảy mươi chín nghìn đồng).

Trả lại cho bị cáo và chị Giàng Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 21-HA 021.72 để quản lý, sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phần tranh luận:

Người bào chữa cho bị cáo: Sau khi nghe lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, người bào chữa cơ bản nhất trí với các nhận định và đề nghị của Kiểm sát viên. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức về pháp luật còn rất hạn chế, bị cáo không phải là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý không nhằm mục đích bán kiếm tiền thu lợi bất chính. Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình do thiếu hiểu biết đã gây ra. Số lượng ma tuý tàng trữ là 0,155 gam heroine cũng chỉ ở mức đầu khung nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất theo khung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát với thời hạn 15 tháng tù là phù hợp. Các vấn đề khác nhất trí với Kiểm sát viên.

Bị cáo: Bị cáo nhất trí với đề nghị của người bào chữa, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T: Bị cáo Cứ A C1 và chị Giàng Thị T có quan hệ vợ chồng. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 21-HA 021.72 đăng ký mang tên Cứ A C1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh là tài sản chung của vợ chồng bị cáo và đây cũng là phương tiện đi lại, phương tiện liên lạc duy nhất của cả hai vợ chồng khi xuống thành phố P sinh sống, làm việc. Bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua ma tuý chị T không được biết nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho vợ chồng chị T chiếc xe và chiếc điện thoại để làm phương tiện đi lại, liên lạc.

Chị T: Nhất trí với đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được Toà án triệu tập hợp lệ tuy nhiên tại phiên toà, những người chứng kiến đều vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ, Kiểm sát viên, bị cáo/người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 25/3/2024, tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Cứ A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,155 gam ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố P bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số: 109/CT-VKSPY ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố bị cáo Cứ A C1 về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.

[4]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét tính chất, mức độ nghiệm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Cứ A C1 có trình độ học vấn thấp chỉ học hết lớp 2/12, từ nhỏ sống và làm việc tại địa phương sau đó đi làm lao động tự do, chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Từ các nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma tuý và các quy định của pháp luật về quản lý các chất ma tuý cũng như các chế tài hình sự đối với các hành vi phạm tội về ma tuý nhưng vẫn bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Xét nguyên nhân, động cơ phạm tội thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật về quản lý, sử dụng ma tuý cũng như các chế tài đối với tội phạm về ma tuý còn hạn chế nên mới bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi trái pháp luật với lỗi cố ý, bị cáo phạm tội không nhằm mục đích kiếm lời bất chính nên cần xem xét giảm nhẹ phần nào trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ, được chấp nhận; Đề nghị của bị cáo/người bào chữa cho bị cáo có phần trùng với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • - Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và vỏ bao mẫu lưu kho không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật;
  • - Đối với số tiền 79.000 đồng (Bảy mươi chín nghìn đồng) là tài sản của bị cáo C1 nhưng bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo để quản lý, sử dụng;
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 21-HA 021.72, đã qua sử dụng, đăng ký mang tên Cứ A C1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã qua sử dụng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bị cáo và chị Giàng Thị T, là phương tiện đi lại, liên lạc duy nhất trong gia đình bị cáo. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma tuý chị T không biết nên trả lại cho bị cáo và chị Giàng Thị T quản lý, sử dụng.

[7]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Cứ A, theo C1 khai mua của một người nam giới tại khu vực đường gom khu công nghiệp T, phường H, thành phố P. Chờ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.

[9]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T về các vấn đề trong vụ án là có căn cứ, phù hợp, cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Tuyên bố:

Bị cáo Cứ A C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cứ A (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/3/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K ghi hoàn trả 0,145 gam mẫu K và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi mẫu lưu kho;

Trả lại cho bị cáo C2 A Chờ 79.000 đồng (bảy mươi chín nghìn đồng);

Trả lại cho bị cáo C2 A C1 và chị Giàng Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, BKS 21-HA 024.72, màu xanh, xe cũ đã qua sử dụng, có số khung RLHJA3936PY006834, số máy JA70E-0008725, dung tích 109cm³ và 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT2 ghi 01 điện thoại Redmi, màu xanh đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024 và Uỷ nhiệm chi ngày 03/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố P với Chi cục THADS thành phố P).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cứ A C1.

4. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và các đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - VKSND thành phố Phổ yên;
  • - Thi hành án thành phố Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 124/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cứ A C bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger