Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 124/2023/DS-PT

Ngày 14/8/2023

V/v: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hà Giang;

Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Hương Giang và ông Nguyễn Việt Hùng.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong các ngày 19/7/2023 và 14 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu” do bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 30 tháng 03 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 92/2023/QĐ-PT ngày 09 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2023/QÐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 76/2023/QĐ-PT ngày 19/7/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: anh Phùng Văn S, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);

    Người đại diện theo ủy quyền của anh Phùng Văn S: bà Võ Thị An B, sinh năm 1982; địa chỉ: số I, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt);

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phùng Văn S: bà Hoàng Thị Bích L- Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: số I, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa ngày 19/7/2023, xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 14/8/2023);

  2. Bị đơn: ông Phùng Văn C, sinh năm 1959 (có mặt) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958 (vắng mặt); cùng địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T: ông Phùng Văn C, sinh năm 1959; địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T: ông Bùi thế V và bà Nguyễn Thị Thu H - Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: số B, phố V, quận B, thành phố Hà Nội (có mặt);

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • + Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);

      Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T1: bà Võ Thị An B, sinh năm 1982; địa chỉ: số I, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt);

    • + Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn L, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa ngày 19/7/2023, vắng mặt tại phiên tòa ngày 14/8/2023);

    • + Anh Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1970; địa chỉ: số nhà H, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang vắng mặt tại phiên tòa ngày 19/7/2023, có mặt tại phiên tòa ngày 14/8/2023).

    • +Anh Phùng Văn D, sinh năm 1980; địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

Người kháng cáo: Nguyên đơn - anh Phùng Văn S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị T1.

Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 30/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn - anh Phùng Văn S trình bày: ngày 23/02/2021, giữa anh và vợ chồng ông C, bà T có ký kết hợp đồng thoả thuận về việc mua bán nhà đất ở đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ số 2, diện tích là 180,5m² đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số H01244 ngày 24/12/2005 mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng đất lâu dài, nguồn gốc sử dụng đất là Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất mang tên ông Phùng Văn C và bà Nguyễn Thị T có địa chỉ tại thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Hai bên thoả thuận giá chuyển nhượng là 810.000.000 đồng, anh đã giao đủ tiền cho ông C, bà T. Sau khi giao nhận tiền, ký kết hợp đồng chuyển nhượng xong thì giữa anh và ông C không có việc bàn giao đất trên thực địa, vì bản thân anh ở cùng thôn với ông C nên anh có biết vị trí của thửa đất, thửa đất từ trước đến giờ vẫn đang để không, không xây dựng gì, không có ai quản lý và sử dụng. Sau khi anh nhận chuyển nhượng của ông C và bà Tam a cũng không xây dựng gì trên thửa đất này.

Nay, anh đề nghị Tòa án giải quyết công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (HĐCNQSDĐ) giữa anh Nguyễn Văn S1 và ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T ngày 23/2/2021 là hợp pháp và yêu cầu ông C phải chuyển nhượng cho anh cả thửa đất số 69, tờ bản đồ số 02 có diện tích 180,5m².

Nếu trường hợp Toà án không công nhận HĐCNQSDĐ giữa anh Phùng Văn S và ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T ngày 23/2/2021 là hợp pháp thì anh đề nghị Toà án giải quyết như sau:

  • + Tuyên bố HĐCNQSDĐ đất giữa anh S và ông C, bà T ngày 23/2/2021 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu là: buộc ông C, bà T phải hoàn trả lại anh số tiền đã nhận là: 810.000.000 đồng (T2 trăm mười triệu đồng). Đây là số tiền anh đã giao cho ông C và bà T để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất nói trên.

  • + Buộc ông C, bà T phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng anh khi giao dịch dân sự vô hiệu do ông C, bà T có lỗi toàn bộ dẫn đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên vô hiệu. Số tiền anh yêu cầu ông C, bà T phải bồi thường là phần chênh lệch giữa giá trị của thửa đất số 69, diện tích 180,5m² theo giá thị trường tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án với giá của diện tích đất tại thời điểm chuyển nhượng (ngày 23/02/2021). Giá trị số thửa đất anh tạm ước tính khoảng 1,3 tỷ đồng. Phần chênh lệch anh tạm tính là: 490.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền anh đề nghị ông C, bà T phải hoàn trả và bồi thường cho anh khi giao dịch vô hiệu tạm tính là: 810.000.000 đồng + 490.000.000 đồng = 1.300.000.000 đồng.

Bị đơn - ông Phùng Văn C trình bày: vợ chồng ông được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số H01244 ngày 24/12/2005 đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ số 2, diện tích là 180,5m², mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng đất lâu dài mang tên ông C và bà T có địa chỉ tại thôn T, xã N, huyện Y. Hiện nay, thửa đất này vợ chồng ông để không, chưa xây dựng công trình gì.

Ông và anh Phùng Văn S có mối quan hệ họ hàng, bản thân ông và anh S không hề có sự thỏa thuận với nhau về việc mua bán thửa đất trên. Tại hợp đồng thỏa thuận về việc mua bán nhà đất ở ngày 23/02/2021 mà anh S cung cấp cho Tòa án, ông khẳng định không phải chữ ký của vợ chồng ông tại mục đại diện bên A (bên bán). Giữa vợ chồng ông và anh S không lập hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà đất nào. Ông đề nghị Tòa án tiến hành giám định chữ ký chữ viết của vợ chồng ông tại Tại hợp đồng thỏa thuận về việc mua bán nhà đất ở ngày 23/02/2021 mà anh S cung cấp cho Tòa án.

Vợ chồng ông cũng không nhận số tiền 810.000.000 đồng của anh S. Ngày 02/02/2021, anh S có nhờ ông viết hộ Biên nhận giao tiền. Theo biên nhận giao tiền đó thì ông là Phùng Văn C có giao cho anh Nguyễn Thanh L1 ở thành phố B số tiền 300.000.000 đồng. Lý do giao tiền cho anh L1 là chuyển nhượng sang tên đất từ ông C chuyển nhượng cho anh S. Diện tích thửa đất ở vị trí phía Đông hồ chùa cả theo biên bản chuyển nhượng đã thống nhất giữa anh S và ông C. Anh L1 đại diện bên nhận tiền là trung gian mua bán được anh Phùng Văn D ủy quyền.

Về giấy biên nhận giao tiền ngày 02/02/2021 như sau: nguồn gốc thửa đất số 69 của gia đình ông mua của UBND xã N từ những năm 2000. Sau khi vợ chồng ông được nhà nước cấp GCNQSDĐ thì bà Thân Thị M (có mối quan hệ họ hàng với nhà ông) cho rằng một nửa diện tích của nhà ông là của nhà bà M. Bà M đã nhiều năm có đơn từ gửi đến các cơ quan có thẩm quyền nhưng không được giải quyết. Sau đó bà M đã thuê xã hội đen đến đe dọa vợ chồng ông nhiều lần nên ông đã đồng ý chuyển nhượng lại cho bà M diện tích 90m². Theo đó, ông đã đồng ý chuyển nhượng cho anh Phùng Văn D (là con trai bà M) diện tích 90m². Nhưng anh D nói sau khi nhận chuyển nhượng từ ông sẽ chuyển nhượng luôn cho anh Phùng Văn S. Vì vậy, các bên thống nhất là lập biên nhận giao tiền từ ông sang cho anh S và sẽ chuyển nhượng thẳng diện tích 90m² cho anh S (là ông D bán cho anh S với giá 300.000.000 đồng). Chứ thực tế không hề có sự việc ông chuyển nhượng đất cho anh S. Khi lập biên nhận giao tiền này là do anh S nhờ ông viết hộ, khi đó có mặt hai vợ chồng anh S, ông D và anh L1. Sau khi ông viết xong thì giữa vợ chồng anh S và anh L1 có thực hiện việc chuyển khoản cho nhau chứ không có tiền mặt và số tiền đó cũng không phải của ông mà là của vợ chồng anh S.

Trước đó vào năm 2017, bà M đã bán một nửa diện tích đất này cho anh Nguyễn Văn N với giá 70.000.000 đồng. Nên bà M ép ông phải làm thủ tục chuyển nhượng tại các cơ quan nhà nước cho anh N. Sau đó, ông đã làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thẳng cho anh N, chứ không thông qua anh D hay anh S nữa.

Năm 2021, thửa đất số 69 này của gia đình ông đã được tách làm hai thửa đất và đã được cấp thành hai GCNQSDĐ, cụ thể như sau:

  • Thửa thứ nhất: thửa đất số 840, tờ bản đồ số 02 có diện tích 87,9m² được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ số 475822 ngày 19/7/2021 mang tên ông C và bà T.

  • Thửa đất thứ hai: thửa đất số 841, tờ bản đồ số 02 có diện tích 92,6m² được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ số 475823 ngày 19/7/2021 mang tên ông C và bà T.

Sau khi tách thửa đất số 69 thành hai thửa như trên thì cùng trong tháng 7/2021, ông đã chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn N thửa đất số 841, tờ bản đồ số 02 có diện tích 92,6m² với giá 140.000.000 đồng. Giữa ông và anh N đã bàn giao cho nhau xong việc chuyển nhượng này, không còn vướng mắc gì.

Còn thửa đất số 840, tờ bản đồ số 02 có diện tích 87,9m² hiện nay vẫn mang tên vợ chồng ông và vẫn do vợ chồng ông trực tiếp quản lý.

Vì vậy, ông khẳng định giữa vợ chồng ông và anh S không hề có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau. Nay, anh S khởi kiện đề nghị Công nhận HĐCNQSDĐ giữa anh S và vợ chồng ông ngày 23/2/2021 là hợp pháp thì ông không nhất trí.

Bị đơn - bà Nguyễn Thị T trình bày: toàn bộ sự việc như chồng bà là ông Phùng Văn C trình bày là đúng, bà nhất trí và không bổ sung thêm gì, mọi giấy tờ ông C ký đều không có sự chứng kiến của bà nên bà không được rõ, bản thân bà không liên quan gì đến sự việc này.

Nay, anh Phùng Văn S khởi kiện đề nghị Công nhận HĐCNQSDĐ giữa anh S và ông C, bà T ngày 23/2/2021 là hợp pháp thì bà không nhất trí.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị T1 trình bày: lợi dụng mối quan hệ quen biết và biết gia đình chị có nhu cầu mua đất ở, ông C và bà T đã đặt vấn đề chuyển nhượng cho gia đình chị diện tích đất ở 180,5m² thuộc thửa đất số 69, tờ bản đồ số 2 địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y. Sau khi được xem xét đất và tận mắt nhìn thấy GCNQSDĐ mang tên ông C, bà T nên gia đình chị đã đồng ý nhận chuyển nhượng. Việc chuyển nhượng được thể hiện bằng Hợp đồng thoả thuận mua bán nhà đất ở lập ngày 23/02/2021. Chồng chị là anh S và ông C, bà T đã trực tiếp ký vào văn bản này. Giá chuyển nhượng là 810.000.000 đồng. Ngày 02/02/2021, anh S đặt cọc trước cho ông C, bà T số tiền là 500.000.000 đồng. Đến ngày 23/02/2021, anh S thanh toán nốt tiền cho ông C, bà T là 310.000.000 đồng và hai bên đã tiến hành bàn giao đất trên thực địa. Trong hợp đồng đã thoả thuận rõ: Bên bán có trách nhiệm làm mọi thủ tục sang tên cho Bên mua trong thời hạn đến 25/3/2021, nếu sai bên bán chịu phạt gấp đôi. Tuy nhiên, qua ngày 25/3/2021 và đến thời điểm hiện nay ông C, bà T không thực hiện đúng thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng mua bán nhà đất ở.

Chị khẳng định việc mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng trên là hoàn toàn hợp pháp. Vợ chồng chị đã thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng, và hai bên đã tiến hành bàn giao đất trên thực địa. Tại thời điểm chuyển nhượng nhà đất không hề có tranh chấp, không bị cầm cố, thế chấp hay bị cưỡng chế, kê biên để đảm bảo thi hành cho nghĩa vụ của bên thứ ba; hoặc cũng không thuộc trường hợp bị cấm chuyển nhượng; việc chuyển nhượng cũng không vi phạm quyền lợi của các thành viên trong gia đình của bên chuyển nhượng đất. Như vậy, nội dung của HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 23/02/2021 là hợp pháp. Anh chị nhiều lần yêu cầu nhưng ông C, bà T không thực hiện nghĩa vụ của bên có tài sản đó là hoàn thiện về mặt hình thức của Hợp đồng, thực hiện các nghĩa vụ khác để sang tên chuyển nhượng cho anh chị được đứng tên trên GCNQSDĐ đối với thửa đất trên.

Nay chị hoàn toàn nhất trí với nội dung yêu cầu khởi kiện của chồng chị là anh S. Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chồng chị để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh chị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh và anh S, ông C không có mối quan hệ gì. Khoảng tháng 7 năm 2021, qua chỗ anh Phùng Văn D thì anh có được biết ông C và bà Tam có một thửa đất ở muốn bán. Anh đã trực tiếp đến gặp vợ chồng ông C để hỏi mua đất ở của ông C, ông C đã đồng ý, giữa anh và vợ chồng ông C có thỏa thuận: ông C bán cho anh thửa đất ở số 841, tờ bản đồ số 02 có diện tích là 92,6m², mục đích sử dụng là đất ở đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ số DB 475823 ngày 19/7/2021 mang tên ông C và bà T, địa chỉ tại thôn T, xã N, huyện Y, với giá 850.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong thì ngày 28/7/2021, anh và vợ chồng ông C, bà T đã đến Văn phòng C1 để làm HĐCNQSDĐ từ vợ chồng ông C, bà T sang cho anh. Cùng ngày anh đã thanh toán đầy đủ số tiền 850.000.000 đồng cho vợ chồng ông C, bà T; ông C, bà T trực tiếp nhận tiền của anh.

Ngày 19/8/2021, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Y đã chỉnh lý trang 4 mang tên anh. Anh khẳng định việc mua bán giữa anh không liên quan đến anh D và bà M, anh chỉ làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua vợ chồng ông C, bà T, việc chuyển nhượng này cũng không liên quan đến vợ anh, do một mình anh đứng ra nhận chuyển nhượng.

Nay, anh S khởi kiện ông C, bà T yêu cầu ông C, bà T trả lại toàn bộ thửa đất số 69, diện tích 180,5m² (trong đó có 92,6m² đất là của anh) thì anh có quan điểm: Anh không biết việc giữa anh S và ông C có thỏa thuận về việc chuyển nhượng thửa đất trên như thế nào và khi nào nên anh không liên quan đến việc chuyển nhượng đó. Anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật không ảnh hưởng đến quyền lợi của anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thanh L1 trình bày: Anh và ông C, anh N và anh S không có quan hệ họ hàng gì, không có mâu thuẫn gì, chỉ có mối quan hệ xã hội, anh biết ông C, anh N và anh S thông qua việc anh D nhờ ông đứng ra hoà giải việc tranh chấp đất giữa gia đình anh D với gia đình ông C.

Sau khi xem Biên nhận giao tiền ghi ngày 02/2/2021 thì anh xác định đúng là chữ ký, chữ viết của anh mang tên Nguyễn Thanh L1 tại phần Người nhận tiền ký. Biên nhận giao tiền này là do ông C viết, anh chỉ ký vào dưới phần người nhận tiền. Lý do có giấy biên nhận nêu trên là do trước khi viết giấy có sự thoả thuận giữa anh, ông C, anh L1, anh N, anh S với nội dung là ông C sẽ tách thửa đất đang tranh chấp với gia đình anh D ra làm hai thửa, một thửa của ông C, một thửa của gia đình anh D. Thửa đất của gia đình anh D thì anh S sẽ đứng ra mua lại. Sau khi thoả thuận như vậy thì anh S, ông C có nhờ anh chứng kiến việc anh S sẽ đứng ra mua thửa đất của ông C và sẽ chuyển tiền cho ông C. Còn việc anh và anh N đứng ra dàn xếp, hoà giải thì anh D sẽ làm việc trực tiếp với anh N. Anh đồng ý phương án như vậy nên khi ông C viết giấy biên nhận giao tiền tại nhà anh S anh đã ký vào bên nhận tiền nhưng thực tế tại thời điểm đó ông C không giao tiền cho anh và sau đó anh S cũng không chuyển tiền cho anh. Bản thân anh không biết việc anh S có chuyển cho ông C hay không thì anh không biết. Anh không được chứng kiến bất cứ việc giao tiền nào giữa anh S với ông C, anh N, anh D. Khi anh ký vào giấy biên nhận giao tiền vào đúng ngày 02/02/2021 tại nhà anh S, có anh, ông C và anh S chứng kiến việc trên. Bản thân anh không sử dụng bất cứ tài khoản ngân hàng nào, ông C trình bày là anh S có chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của anh là không đúng, nếu có thì yêu cầu anh S và ông C sao kê tài khoản đối với số tiền chuyển khoản đó cho anh. Thực tế, anh ký giấy biên nhận giao tiền ngày 02/02/2021 chỉ là để làm chứng, làm tin cho các bên chứ bản thân anh không nhận được bất cứ số tiền nào là 300.000.000 đồng như giấy biên nhận giao tiền đã ghi.

Trong sự việc này, anh đứng ra giải quyết việc thoả thuận tranh chấp đất nêu trên anh có bảo anh D đến nhờ anh N thì sau đó anh N có nói nếu em đứng ra giải quyết thì anh phải bảo gia đình anh D viết giấy chuyển nhượng đất cho em để em đứng ra giải quyết. Anh không biết anh D có viết giấy chuyển nhượng cho anh N không. Theo anh biết trước khi ông giới thiệu anh D cho anh N thì anh D không quen biết anh N, không nợ tiền anh N và trước đó cũng không bán cho anh N thửa đất nào.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phùng Văn D trình bày: Anh và ông C, anh S có quan hệ họ hàng, anh là chú họ của ông C và là anh họ của anh S. Còn với anh L1 và anh N anh không có quen hệ họ hàng gì, anh biết anh L1 và anh N thông qua việc gia đình anh có tranh chấp thửa đất có địa chỉ tại thôn T, xã N, huyện Y đang mang tên ông C và bà T.

Sau khi được xem giấy nhận và giao tiền ngày 23/02/2021, hợp đồng thoả thuận về việc mua bán nhà đất ở và giấy xác nhận chia thửa đất ngày 25/01/2021 thì ông xác định đúng chữ ký và chữ viết của anh dưới phần người nhận tiền ký, người làm chứng và bên nhận chuyển nhượng ký.

Giấy nhận và giao tiền ngày 23/02/2021 là do ông C viết tại nhà anh S vào ngày 23/02/2021. Lý do có giấy biên nhận nêu trên là do trước khi viết giấy có sự thoả thuận giữa anh, ông C, anh L1, anh N, anh S với nội dung là: sau khi anh L1 và anh N đứng ra hoà giải thì ông C sẽ tách thửa đất đang tranh chấp với gia đình ông làm hai thửa, một thửa của ông C, một nửa của gia đình anh. Thửa đất của gia đình anh thì anh S sẽ đứng ra mua lại. Số tiền nhận được từ anh S anh sẽ làm việc với anh L1 theo thoả thuận riêng giữa anh với anh L1. Sau khi các bên đã đồng ý thoả thuận như vậy thì anh S, ông C có nói nhờ anh ký vào giấy giao và nhận tiền trên để anh S có căn cứ trả tiền cho các bên. Anh đồng ý phương án như vậy nên khi ông C viết giấy biên nhận giao tiền tại nhà anh S thì anh đã ký vào bên người nhận tiền nhưng thực tế tại thời điểm đó ông C không giao tiền cho anh và sau đó anh S cũng không chuyển tiền cho anh. Anh S có chuyển tiền cho ông C hay không thì ông cũng không được biết. Anh không được chứng kiến bất cứ việc giao tiền nào giữa anh S với ông C, anh N. Khi anh ký vào biên nhận giao tiền vào đúng ngày 23/2/2021 tại nhà anh S thì có anh, ông C và anh S chứng kiến sự việc trên.

Vào thời điểm ngày 24/3/2017, anh và mẹ anh là bà M không chuyển nhượng đất của gia đình anh cho anh N. Ngày 24/3/2017, anh không biết anh N, đến đầu năm 2021 khi phát sinh tranh chấp thửa đất giữa gia đình anh với gia đình ông C thì anh có nhờ anh L1 đứng ra hoà giải. Anh L1 giới thiệu anh với anh N và nhờ anh N cùng tham gia giải quyết hoà giải thì anh mới biết anh N. Do vậy, vào thời điểm ngày 24/3/2017 gia đình anh không có đất và cũng không làm giấy chuyển nhượng đất cho anh N với giá 70.000.000 đồng. Gia đình anh chưa nhận được bất kì số tiền nào của anh N và cũng không công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất cho anh N. Sau khi được xem giấy chuyển nhượng đất ghi ngày 24/3/2017 anh khẳng định không phải chữ ký của anh và mẹ anh trên giấy chuyển nhượng nêu trên. Theo anh được biết trong quá trình phát sinh tranh chấp đất giữa gia đình anh với gia đình ông C, bà T, anh N có đặt vấn đề với anh L1 là gia đình anh phải làm giấy chuyển nhượng đất của gia đình anh sang cho anh N để anh N có căn cứ đứng ra dàn xếp hoà giải nhưng anh L1 nói không đồng ý. Anh không biết từ đâu mà anh N có giấy chuyển nhượng đất có chữ ký của anh và mẹ anh cho anh N với giá 70.000.000 đồng. Thực tế thửa đất đang tranh chấp có giá trị cao, anh không biết, không nợ nần gì anh N nên không thể bán cho anh N thửa đất trên với giá 70.000.000 đồng.

Đối với giấy xác nhận chia thửa đất ghi ngày 25/01/2021 là do ông C viết tại nhà anh N vào ngày 25/01/2021, anh có ký nhận vào bên người nhận chuyển nhượng ký. Lý do có giấy biên nhận nêu trên là do anh đồng ý cho anh N đứng ra giải quyết việc tranh chấp đất, anh và gia đình sẽ nhận lại thửa đất, còn lại anh N và anh L1 đứng ra hoà giải thì anh sẽ có trách nhiệm trả tiền theo thoả thuận giữa hai bên. Do vậy, khi ông C và anh N viết giấy trên thì anh ký vào dưới phần người chứng kiến nhưng đến thời điểm hiện tại ông C đã chuyển nhượng đất của gia đình anh đã thoả thuận cho anh N nhưng anh và gia đình anh chưa nhận được bất cứ số tiền nào.

Nay anh S khởi kiện ông C thì theo anh, ông C và anh S phải thoả thuận với nhau về việc mua bán thửa đất, nếu ông C không bán nữa thì ông C phải trả lại tiền cho anh S.

Với nội dung trên, bản án dân sự số 13/2023/DS-ST ngày 30 tháng 03 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã: căn cứ Điều 117, Điều 122, Điều 131, Điều 450, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của BLDS. Xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Nguyễn Văn S1 và ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T ngày 23/2/2021 là hợp pháp và yêu cầu ông C phải chuyển nhượng cho anh S1 cả thửa đất số 69, tờ bản đồ số 02 có diện tích 180,5m².

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Văn S, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 23/01/2021 giữa ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T và anh Phùng Văn S là vô hiệu.

  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Văn S về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là buộc ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T phải hoàn trả lại anh S số tiền đã nhận là: 810.000.000 đồng và buộc ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T phải bồi thường thiệt hại cho anh Phùng Văn S số tiền 900.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 12/4/2023, nguyên đơn – anh Phùng Văn S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị T1 kháng cáo đề nghị Tòa phúc thẩm sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh, tuyên bố hợp đồng thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh và ông C, bà T ngày 23/02/2021 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc ông C, bà T phải trả anh số tiền đã nhận là 810.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho vợ chồng anh do ông C, bà T có lỗi dẫn đến giao dịch vô hiệu số tiền 900.000.000 đồng.

Ngày 28/4/2023, Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang kháng nghị, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của anh S, chị T1, đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang giữ nguyên kháng nghị, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/7/2023, Luật sư Hoàng Bích L bảo vệ quyền lợi ích cho anh S phát biểu ý kiến, sau khi lập luận, phân tích các tình tiết của vụ án và các căn cứ, Luật sư L đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận kháng cáo của anh S và kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh S.

Bà B đại diện theo ủy quyền của anh S, chị T1 phát biểu ý kiến giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, kháng cáo và đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của anh S, chị T1 và kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh S.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư V bảo vệ quyền lợi ích cho ông C phát biểu ý kiến và đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của anh S và kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bởi vì ông C không trực tiếp nhận tiền của anh S và chỉ thực hiện các thủ tục viết biên nhận tiền chuyển nhượng QSDĐ do anh D đại diện cho bà M (mẹ anh D), anh L1, anh N là những người trực tiếp giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà M và gia đình ông C liên quan đến diện tích đất trên. Đề nghị HĐXX căn cứ vào kết luận của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh B để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của anh S. Nếu HĐXX căn cứ vào văn bản thỏa thuận chuyển nhượng giữa anh S và vợ chồng ông C ngày 02/02/2021 thì đề nghị tiến hành giám định lại theo yêu cầu ông C. Đồng thời đề nghị HĐXX xem xét lại toàn bộ quá trình giao dịch giữa ông C, anh S, anh N, anh D, anh L1 để giải quyết vụ án đảm bảo đúng pháp luật.

Luật sư H đồng ý với phần ý kiến phát biểu của Luật sư V, không bổ sung gì thêm.

Ông C, bà T do ông C đại diện đồng ý với ý kiến của Luật sư V, không đồng ý yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của ông S và kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị HĐXX: căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS) chấp nhận kháng cáo của anh Phùng Văn S, chị Nguyễn Thị T1 và kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang, Sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S và sửa phần án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:

[1]. Về sự vắng mặt của các đương sự: anh Phùng Văn D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai không có lý do. HĐXX quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên là đảm bảo quy định tại khoản 3 Điều 296 của BLTTDS.

[2.1]. Xét nội dung vụ án và kháng cáo của anh S, chị T1, kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang, HĐXX thấy:

[2.1]. Xét nội dung vụ án: ông C, bà T có diện tích 180,5m² tại thửa số 69, tờ bản đồ số 2, địa chỉ thửa đất thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ đất số AD 166082 ngày 24/12/2005 mang tên ông C, bà T.

Ngày 23/02/2021, anh S và ông C, bà T có ký kết hợp đồng thỏa thuận về việc mua bán nhà đất ở. Theo đó, ông C, bà T chuyển nhượng cho anh S thửa đất số 69 nói trên với giá 810.000.000 đồng. Anh S đã đặt cọc trước cho ông C số tiền là 500.000.000 đồng vào ngày 02/02/2021, đến ngày 23/02/2021, anh S thanh toán nốt số tiền còn lại là 310.000.000 đồng cho ông C, bà T, ông C, bà T có trách nhiệm làm mọi thủ tục pháp lý để sang tên chuyển nhượng cho anh S hạn đến ngày 25/03/2021. Tuy nhiên, sau khi ký kết hợp đồng thì ông C, bà T không làm thủ tục chuyển nhượng cho anh S, anh S đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông C, bà T không thực hiện. Ông C, bà T xác nhận chữ ký trong hợp đồng là đúng chữ ký của ông C và bà T. Tuy nhiên, ông bà cho rằng anh S đã lừa ông bà ký vào hợp đồng này.

Tháng 7/2021, ông C, bà T đã làm thủ tục đề nghị Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B tách thửa đất số 69, tờ bản đồ số 02, có diện tích 180,5m² của ông bà thành hai thửa. Ngày 19/7/2021, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B đã tách thửa đất số 69, tờ bản đồ số 02, có diện tích 180,5m² của ông C, bà Tam thành hai thửa là thửa số 840, tờ bản đồ số 02 có diện tích là 87,9m² và thửa số 841, tờ bản đồ số 02 có diện tích là 92,6m² và đã cấp GCNQSDĐ 02 thửa này cho ông C, bà T.

Tháng 8/2021, ông C, bà T đã làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa số 841, tờ bản đồ số 02 có diện tích là 92,6m² cho anh Nguyễn Văn N ở thôn L, xã S, thành phố B, anh N đã được chỉnh lý biến động tên người sử dụng đất tại trang 4 của GCNQSDĐ.

Xét hợp đồng thoả thuận về việc mua bán nhà đất ngày 23/02/2021 không được công chứng, chứng thực; nội dung hợp đồng không ghi rõ diện tích đất chuyển nhượng là bao nhiêu, thực tế trên thửa đất không có công trình là nhà ở nhưng nội dung của hợp đồng thoả thuận về việc mua bán nhà đất ở và hợp đồng có thêm nội dung như hợp đồng đặt cọc đó là “Nếu sai Bên A (Bên bán) chịu phạt gấp đôi”. Mặt khác, sau khi anh S, ông C, bà T ký kết hợp đồng này phía ông C, bà T đã không làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho anh S, các bên chưa thực hiện việc đăng ký chuyển quyền sử dụng đất theo quy định nên việc chuyển quyền sử dụng đất chưa có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 117, khoản 3 Điều 167, Điều 503 BLDS.

Như vậy, HĐXX thấy có căn cứ để xác định khi thực hiện giao dịch, các bên đã vi phạm cả về hình thức và nội dung, không đáp ứng được quy định tại Điều 117 BLDS. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Văn S về việc đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 23/02/2021 giữa ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T và anh Phùng Văn S vô hiệu theo quy định tại Điều 117, 122 và 131 của BLDS. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của anh S, tuyên bố đồng thoả thuận về việc mua bán nhà đất ngày 23/02/2021 vô hiệu là có căn cứ.

[2.2]. Xét nội dung kháng cáo của anh S, chị T1 và kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang, HĐXX thấy: Hợp đồng thỏa thuận về việc mua bán thửa đất ở ngày 23/02/2021, có nội dung: ông C, bà T chuyển nhượng cho anh S, chị T1 thửa đất số 69, tờ bản đồ 02 với giá là 810.000.000đ; bên mua là anh S đã đặt cọc trước cho bên bán là ông C, bà T số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 02/02/2021; đến hôm nay ngày 23/02/2021 bên mua thanh toán nốt số tiền còn lại là 310.000.000 đồng cho bên bán; tổng số tiền bên mua đã thanh toán trả cho bên bán là 810.000.000 đồng. Hợp đồng có đầy đủ chữ ký của ông C, bà T, anh S và của người làm chứng là anh D.

Quá trình xét xử sơ thẩm, cùng với việc cung cấp hợp đồng thỏa thuận ngày 23/02/2023 nêu trên, anh S còn cung cấp Giấy nhận và giao tiền ngày 23/02/2021, có nội dung: Lần 2 nhận số tiền 300.000.000 đồng; chuyển số tiền đã nhận cho anh L1; lần 3 nhận 310.000.000 đồng; chuyển lại số tiền cho ông D. Giấy có chữ của người giao tiền là ông C; người nhận tiền là ông D.

Ban đầu ông C, bà T không thừa nhận chữ ký trong hợp đồng mua bán nhà đất ở ngày 23/02/2021 và yêu cầu giám định nhưng quá trình giải quyết vụ án, ông C, bà T thừa nhận chữ ký, chữ viết trong hợp đồng là của mình nhưng cho rằng không được nhận tiền mà do anh S, anh L1, anh D nhờ viết và ký biên nhận nên mới viết và ký tên trong Giấy biên nhận tiền. Ông C, bà T trình bày như trên nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.

Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm, anh S kháng cáo và xuất trình Hợp đồng mua bán nhà đất ở ngày 02/02/2021, nội dung thể hiện: bên bán là ông C, bà T; bên mua là ông S, bà T1; người làm chứng là ông D; tài sản mua bán là thửa đất số 69, tờ bản đồ số 2 địa chỉ thôn T, xã N, huyện Y; giá bán 810.000.000 đồng; bên mua đã đặt cọc trước cho bên bán 500.000.000 đồng; số tiền còn lại 310.000.000 đồng thanh toán vào ngày 23/02/2021; bên bán không bán chịu phạt số tiền 600.000.000 đồng; bên mua không mua chịu phạt 100.000.000 đồng; hợp đồng có chữ ký của ông C, ông S; của người làm chứng là ông D. Ông C cho rằng chữ ký trong hợp đồng này không phải của ông nên đã yêu cầu giám định. Tại kết luận giám định số 1406/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của phòng K Công an tỉnh B đã kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Phùng Văn C dưới mục Đại diện bên A trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Phùng Văn C trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M8) là do cùng một người ký, viết ra.

[2.3].Tại phiên tòa, ông C tiếp tục đề nghị giám định lại tại Bộ Q với lý do ông không được ký vào hợp đồng ngày 02/02/2021 và cho rằng kết luận giám định số 1406/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của phòng K Công an tỉnh B không khách quan. Tuy nhiên, ông C không có căn cứ chứng minh cho ý kiến trên của ông nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu giám định lại của ông C.

Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định, anh S đã thực hiện thanh toán trả ông C, bà T số tiền 810.000.000 đồng để mua thửa đất số 69, tờ bản đồ số 2 nói trên. Cụ thể đặt cọc 500.000.000 đồng khi hai bên Hợp đồng mua bán nhà đất ở ngày 02/02/2021 và 310.000.000 đồng vào ngày 23/02/2021.

Việc ông C, bà T đã thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 69, tờ bản đồ số 02, có diện tích 180,5m² cho vợ chồng anh S từ tháng 02/2021 nhưng đã không thực hiện thủ tục sang tên cho vợ chồng anh S theo thỏa thuận mà đến tháng 7/2021, ông C, bà Tam 1 thực hiện tách thửa đất trên làm hai thửa, sau đó chuyển nhượng một thửa cho anh N là vi phạm cơ bản nghĩa vụ của bên chuyển nhượng. Lỗi để dẫn đến Hợp đồng mua bán nhà đất ở ngày 02/02/2021 giữa ông C, bà T và anh S hoàn toàn thuộc về phía ông C, bà T nên ông C, bà T phải chịu trách nhiệm hoàn trả lại số tiền đã nhận từ anh S là 810.000.000 đồng và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chênh lệch về giá trị thửa đất khi hai bên thực hiện chuyển nhượng so với khi vụ án được xét xử sơ thẩm theo định giá là 900.000.000 đồng.

Từ những nhận định phân tích trên, có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của anh S, chị T1 và kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Giang. Vì vậy cần sửa bản án sơ thẩm.

[3]. Do kháng cáo của anh S, chị T1 được chấp nhận nên cần xem xét lại chi phí tố tụng trong vụ án, theo đó cần buộc ông C, bà T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 5.212.000 đồng. Do anh S đã nộp toàn bộ số tiền trên nên cần buộc ông C, bà T có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh S số tiền trên.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: do ông C, bà T là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của anh S, chị T1 được chấp nhận nên anh S, chị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]. Về chi phí giám định: ông Phùng Văn C phải chịu 3.240.000 đồng. Xác nhận ông C đã nộp đủ số tiền này.

[7]. Về việc xuất phát từ mâu thuẫn giữa gia đình bà M và gia đình ông C diện tích đất tranh chấp mà giữa ông C, anh D, anh N, anh L1 thanh toán với nhau từ đó ông C có biên nhận giao tiền 300.000.000 đồng cho anh D, 310.000.000 đồng cho anh L1 và chuyển nhượng QSDĐ diện tích 92,6m² tại thửa 841, tờ bản đồ số 02 thôn T, N, Y cho anh N do không có đương sự nào yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét. Ông C, anh D, anh L1, anh N có quyền khởi kiện những người liên quan bằng một vụ án khác.

[8]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ Luật tố tụng dân sự, xử: chấp nhận kháng cáo của anh Phùng Văn S, chị Nguyễn Thị T1 và chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, sửa Bản án dân sự sơ thẩm 13/2023/DS-ST ngày 30 tháng 03 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

  2. Căn cứ Điều 117, Điều 122, Điều 129, Điều 131, Điều 450, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của BLDS, Điều 167 Luật đất đai. Xử:

    • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Văn S, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 23/01/2021 giữa ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T và anh Phùng Văn S là vô hiệu.

    • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Văn S về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Buộc ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T phải hoàn trả lại anh S số tiền đã nhận là: 810.000.000 đồng (tám trăm mười triệu đồng) và buộc ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T phải bồi thường thiệt hại cho anh Phùng Văn S số tiền 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng).

  3. Về chi phí tố tụng:

    • - Ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T phải chịu 5.212.000 đồng chi phí tố tụng. Xác nhận anh Phùng Văn S đã nộp 5.212.000 đồng. Ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T phải hoàn trả lại anh Phùng Văn S 5.212.000 đồng.

    • - Ông Phùng Văn C phải chịu 3.240.000 đồng chi phí giám định chữ ký chữ viết. Xác nhận ông C đã nộp đủ số tiền này.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Phùng Văn C, bà Nguyễn Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Phùng Văn S, chị Nguyễn Thị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

  6. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân;
  • - Toà án nhân dân huyện Yên Dũng;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2023/DS-PT ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

  • Số bản án: 124/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh S nhận chuyển nhượng QSDĐ của ông Ch
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger