Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày 14-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Ngọc Thân
  2. Ông Hồ Phi Công

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:112/2024/QĐXXST-HS ngày 27/05/2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Minh H; Giới tính: Nam; sinh năm 1965 tại Quảng Ngãi; Nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện nay: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: công giáo; con ông Trần Duy C ( đã chết) và mẹ bà Vũ Thị C1 ( đã chết); Vợ: Phạm Thị Thu T, con có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990 và nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không.

Trần Minh H hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Nguyễn Hoài Như H1, sinh năm 1988 Giới tính: Nam; tại Đồng Nai; Nơi thường trú:ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện nay: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12 ;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: phật; Con ông Nguyễn Văn Đ ( đã chết) và bà Nguyễn Thị H2 ( đã chết). Vợ: Mai Thị V, có 01 con, sinh năm 2023, Tiền án, tiền sự: Không;

Nguyễn Hoài Như H1 hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Nguyễn Hoài Đ1, sinh năm 1978 Giới tính: Nam; tại Đồng Nai; Nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã X, huyện X, Đồng Nai. Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: công giáo; Con ông Nguyễn Văn Đ ( đã chết) và bà Nguyễn Thị H2 ( đã chết)., V1: Nguyễn Thị Như T1, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000 và nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, Tiền sự: Không;

Nguyễn Hoài Đ1 hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Võ Ngọc D; Giới tính: Nam; sinh năm 1969 tại Quảng Ngãi; Nơi thường trú:ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã X, huyện X, Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: công giáo; Con ông Võ Ngọc T2 ( đã chết) và mẹ Nguyễn Thị K ( đã chết); Vợ: Bùi Thị Bút T3, có 02 con: lớn nhất sinh năm 1992và nhỏ nhất sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không;

Võ Ngọc D hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

5.Bùi Văn V2; Giới tính: Nam; sinh năm 1971 tại Q; Nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã X, huyện X, Đồng Nai. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Phật; Con ông Bùi Đ2 ( đã chết) và mẹ bà Đỗ Thị L ( đã chết); Vợ: Bùi Thị L1, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993 và nhỏ nhất sinh năm 1999.Tiền án, tiền sự: Không;

Bùi Văn V2 hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

6.Trần Chí D1, sinh năm 1970 Giới tính: Nam; tại Quảng Ngãi; Nơi thường trú:ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã X, huyện X, Đồng Nai . Nghề nghiệp: phụ hồ; Trình độ học vấn: 0/12 ;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: công giáo; Con ông Trần Duy C (đã chết) và bà Vũ Thị C1 ( đã chết). Vợ: Đỗ Thị C2: có 01 con sinh năm 2013, Tiền án, tiền sự: Không;

Trần Chí D1 hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

7. Huỳnh Ngọc T4, sinh năm 1980 Giới tính: Nam; tại Đồng Nai; Nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã X, huyện X, Đồng Nai . Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 08/12 ;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: phật; Con ông Huỳnh Ngọc C3( đã chết) và bà Thi Thị B. Vợ: Trần Thị Ánh T5, có 02 con, sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2010, Tiền án, tiền sự: Không;

Huỳnh Ngọc T4 hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 28/01/2024, Võ Ngọc D, Trần Chí D1, Bùi Văn V2 đến uống cà phê tại quán không tên thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai do Trần Minh H làm chủ. Tại đây, H rủ D, D1 và V2 đánh bạc thắng, thua bằng tiền dưới hình thức lắc bầu cua qua ứng dụng tên “Bau cua 2025” trên điện thoại di động, không cần kết nối Internet của H thì tất cả đồng ý. Sau đó, Huỳnh Ngọc T4, Nguyễn Hoài Đ1 và Nguyễn Hoài Như H1 cũng đến tham gia đánh bạc cùng H, D, D1 và V2.

Hình thức đánh bạc cụ thể như sau: Nhà cái tải một ứng dụng tên “Bau cua 2025” về máy điện thoại để sử dụng, không cần kết nối với Internet. Khi mở ứng dụng “Bau cua 2025” thì màn hình điện thoại hiện lên các linh vật gồm: bầu, cua, tôm, cá, nai, gà; 03 hột xúc xắc hình khối lập phương có in hình 06 linh vật như trên vào mỗi mặt và 01 bộ chén, đĩa để làm dụng cụ lắc bầu cua. Sau khi người làm cái bấm vào nút “xóc” để lắc 03 viên xúc xắc thì các con bạc lựa chọn các ô hình linh vật tùy thích để đặt cược, có thể đặt một hoặc nhiều ô hình linh vật cùng lúc. Khi các con bạc đặt tiền xong, nhà cái bấm nút “mở” để xác định thắng thua, tỉ lệ thắng thua như sau: Nếu một trong ba viên xúc xắc xuất hiện hình linh vật mà con bạc đặt cược thì họ thắng với tỉ lệ 1x1, nếu có 02 con linh vật thì tỉ lệ thắng là 1x2, nếu có 03 con linh vật thì tỉ lệ thắng 1x3 còn nếu không có con linh vật đã đặt thì con bạc sẽ thua số tiền mình đã đặt cược cho người cầm cái. Khi tham gia đánh bạc, Trần Minh H làm cái, các con bạc sẽ đặt cược số tiền từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, trong quá trình chơi các con bạc không bắt buộc phải tham gia vào tất cả các lượt đặt cược, có thể tham gia hoặc không tham gia tùy ý.

Số tiền sử dụng để tham gia đánh bạc và kết quả thắng thua cụ thể như sau:

Trần Minh H mang theo số tiền 1.465.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H bỏ ra chiếu bạc số tiền 1.465.000 đồng, thắng được số tiền 120.000 đồng. Võ Ngọc D mang theo số tiền 100.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc D bỏ ra chiếu bạc số tiền 100.000 đồng, không thắng, không thua; Trần Chí D1 mang theo số tiền 50.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc D1 bỏ ra chiếu bạc số tiền 50.000 đồng, thua hết số tiền 50.000 đồng; Nguyễn Hoài N H1 mang theo số tiền 2.160.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H1 bỏ ra chiếu bạc số tiền 2.160.000 đồng, thua số tiền 40.000 đồng; Nguyễn Hoài Đ1 mang theo số tiền 1.400.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Đ1 bỏ ra chiếu bạc số tiền 1.400.000 đồng, không thắng, không thua; Bùi Văn V2 mang theo số tiền 20.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc V2 bỏ ra chiếu bạc số tiền 20.000 đồng, thua hết số tiền 20.000 đồng; Huỳnh Ngọc T4 mang theo số tiền 10.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc T4 bỏ ra chiếu bạc số tiền 10.000 đồng, thua hết số tiền 10.000 đồng.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Công an xã X, huyện X tiến hành tuần tra thì phát hiện bắt quả tang Trần Minh H, Võ Ngọc D, Trần Chí D1, Bùi Văn V2, Huỳnh Ngọc T4, Nguyễn Hoài Đ1 và Nguyễn Hoài Như H1 đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình lắc bầu cua. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.205.000 đồng và 01 điện thoại di động đang chạy ứng dụng “Bau cua 2025”. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, D, D1, V2, T4, Đ1, H1 và thu giữ tang vật theo quy định.

Vật chứng vụ án và xử lý: Số tiền 5.205.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xám đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen của Trần Chí D1. Quá trình điều tra xác định D1 không sử dụng điện thoại vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho D1; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exctter, biển số 60B5-654.20 và 01 điện thoại hiệu Samsung galaxy A32 màu xanh của Nguyễn Hoài Như H1. Quá trình điều tra xác định H1 không sử dụng các tài sản nêu trên vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho H1; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 60B5-304.28 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco C40 màu xanh của Võ Ngọc D. Quá trình điều tra xác định D không sử dụng các tài sản nêu trên vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho D; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 60B5-357.25 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S của Nguyễn Hoài Đ1. Quá trình điều tra xác định Đ1 không sử dụng các tài sản nêu trên vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho Đ1; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 60N6- 5241 của Huỳnh Ngọc T4. Quá trình điều tra xác định T4 không sử dụng tài sản nêu trên vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho T4; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 60B5-226.60 của Bùi Văn V2. Quá trình điều tra xác định V2 không sử dụng tài sản nêu trên vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho V2.

Bản cáo trạng số 100/CT-VKSXL ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố các bị cáo Trần Minh H, Nguyễn Hoài Như H1, Nguyễn Hoài Đ1, Võ Ngọc D, Bùi Văn V2, Trần Chí D1 và Huỳnh Ngọc T4, về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo Trần Minh H và Trần Chí D1 có trình độ học vấn thấp, Nguyễn Hoài Như H1 có con còn nhỏ, là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58, khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Minh H từ 8 đến 10 tháng tù.

Đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58, khoản 1 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoài Như H1 và Nguyễn Hoài Đ1 từ 6 đến 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng.

Đề nghị áp dụng điểm i s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58, khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt: bị cáo Võ Ngọc D, Bùi Văn V2, Trần Chí D1, Huỳnh Ngọc T4 từ 6 đến 8 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.205.000 đồng và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xám đen;

Các bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo cũng như không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Minh H, Nguyễn Hoài Như H1, Nguyễn Hoài Đ1, Võ Ngọc D, Bùi Văn V2, Trần Chí D1 và Huỳnh Ngọc T4 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án:

Vào ngày 28/01/2024, tại quán cà phê thuộc ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Trần Minh H, Nguyễn Hoài Như H1, Nguyễn Hoài Đ1, Võ Ngọc D, Bùi Văn V2, Trần Chí D1 và Huỳnh Ngọc T4 đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi lắc bầu cua thông qua ứng dụng “Bau cua 2025” trên điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54, màu xám đen của Trần Minh H. Tổng số tiền các con bạc sử dụng để tham gia đánh bạc là 5.205.000 đồng

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh “ Bầu cua” bằng điện thoại của H. Như vậy, có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Minh H, Nguyễn Hoài Như H1, Nguyễn Hoài Đ1, Võ Ngọc D, Bùi Văn V2, Trần Chí D1 và Huỳnh Ngọc T4 đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015

Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau nên việc xác định tiền, giá trị hiện vật đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010.

Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn và trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền án tiền sự, các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, lao động chính trong gia đình nên các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét thấy, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, số tiền đánh bạc không nhiều, đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý cũng đủ nghiêm. Đối với bị cáo Trần Minh H cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[5] Nhận định của kiểm sát viên phù hợp một phần với nhận định trên nên chấp nhận một phần phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.205.000 đồng (Năm triệu hai trăm lẻ năm ngàn đồng) và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xám đen.

[7] Về án phí: các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Được sửa đổi bổ sung năm 2017). Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao

Tuyên bố các bị cáo Trần Minh H, Nguyễn Hoài Như H1, Nguyễn Hoài Đ1, Võ Ngọc D, Bùi Văn V2, Trần Chí D1 và Huỳnh Ngọc T4 phạm tội “ Đánh bạc”

Xử phạt: bị cáo Trần Minh H 01( Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Trần Minh H 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng).

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoài Như H1 08 (T6) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoài Đ1 08( T6) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16(Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Võ Ngọc D 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12( Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Trần Chí D1 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Bùi Văn V2 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Huỳnh Ngọc T4 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 ( Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Trần Minh H, Nguyễn Hoài Như H1, Nguyễn Hoài Đ1, Võ Ngọc D, Bùi Văn V2, Trần Chí D1 và Huỳnh Ngọc T4 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự quy định: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2.Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.205.000 đồng (Năm triệu, hai trăm lẻ năm ngàn đồng) và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xám đen; ( Theo giấy nộp tiền ngày 19/4/2024 và biên bản giao nhận vật chứng ngàu 19/4/2024)

3.Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Minh H, Nguyễn Hoài Như H1, Nguyễn Hoài Đ1, Võ Ngọc D, Bùi Văn V2, Trần Chí D1 và Huỳnh Ngọc T4, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh H và Đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger