|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 124/2024/DS-ST. Ngày: 13/8/2024. V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Thắm
Bà Nguyễn Kim Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Bình Dương: tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 160/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (V); địa chỉ trụ sở: Số A, đường T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp:
- Ông Bùi Hữu T - Chức vụ: Trưởng phòng Khách hàng bán lẻ thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh B – vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Ông Phạm Nhật P - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Khách hàng bán lẻ thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh B – vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bà Võ Thị T1 – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Khách hàng bán lẻ thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi nhánh B – vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Ông Mai Thanh H - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Khách hàng bán lẻ thuộc Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh B – vắng mặt (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Ông T, ông P, bà T1 và ông H đều là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 13/5/2024) và có cùng địa chỉ liên hệ: Số A, Đại lộ B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn:
- Ông Trần Công H1, sinh năm: 1992 – vắng mặt;
- Bà Vũ Thị T2, sinh năm: 1992 – vắng mặt;
Cùng đăng ký thường trú: Đường N, tổ B, khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong Đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2023, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 13/5/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần N (sau đây viết tắt là VCB) - Chi nhánh B đã cấp tín dụng cho ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 dưới hình thức cho vay theo Hợp đồng cho vay số 569/20/TD/OTO772 ngày 30/10/2020; số tiền vay: 790.000.000 đồng (bảy trăm chín mươi triệu đồng); thời hạn vay: 60 tháng; mục đích vay: Thanh toán chi phí mua xe ô tô tiêu dùng cá nhân; thời hạn trả nợ gốc là 60 tháng, nợ gốc thanh toán trong 60 kỳ, 01 tháng 01 kỳ, từ kỳ 01 đến kỳ 59 trả 13.150.000 đồng/kỳ, kỳ 60 trả 14.150.000 đồng.
Để đảm bảo cho Hợp đồng cho vay nêu trên, ông H1 và bà T2 đã thế chấp tài sản là xe ô tô biển số 61A-835.72, nhãn hiệu Vinfast, màu sơn: Đen; số máy: 50028VF20SED, số khung: 2RSGLV000404; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 136990 do Phòng C – Công an tỉnh B cấp ngày 26/10/2020 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số 569/20/TC/OTO772 ngày 30/10/2020, đã đăng ký giao dịch bảo đàm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng số CE20061456BD, ngày 30/10/2020. Thực hiện hợp đồng thế chấp, ông H1, bà T2 giao cho VCB giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 136990, cấp ngày 26/10/2020; ông H1, bà T2 quản lý, sử dụng xe ô tô biển số 61A-835.72.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1, bà T2 đã trả được số tiền nợ gốc là: 400.147.065 đồng.
Số tiền nợ của ông H1, bà T2 tính đến thời điểm khởi kiện (ngày 12/10/2023) là 408.187.358 đồng, trong đó:
- + Nợ gốc: 389.852.935 đồng;
- + Nợ lãi: 17.696.532 đồng;
- + Lãi phạt chậm trả gốc: 637.891 đồng.
Tính đến thời điểm xét xử (ngày 13/8/2024), ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 còn nợ VCB các khoản sau:
- + Nợ gốc: 389.852.935 đồng;
- + Nợ lãi: 49.261.803 đồng;
- + Lãi phạt chậm trả gốc: 5.376.099 đồng.
Tổng cộng: 444.490.837 đồng.
Ngân hàng TMCP N khởi kiện ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2, yêu cầu Tòa án tuyên:
- - Tuyên buộc ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 444.490.837 đồng, trong đó: Nợ gốc: 389.852.935 đồng; nợ lãi: 49.261.803 đồng; lãi phạt chậm trả gốc: 5.376.099 đồng.
- - Tuyên buộc ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 phải tiếp tục trả lãi và phí phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm (ngày 13/8/2024) cho đến khi ông H1 và bà T2 trả hết nợ gốc cho VCB theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 569/20/TD/OTO772MOT-1 ngày 30/10/2020.
- - Trong trường hợp ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì VCB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số 569/20/TC/OTO772 ngày 30/10/2020 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
2. Đối với bị đơn ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của ông H1 và bà T2. Kết quả xác minh thể hiện ông H1 và bà T2 đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ nơi chuyển đến và không rõ thời điểm trở về. Tòa án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc thụ lý, giải quyết vụ án cho ông H1, bà T2 theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
3. Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát có ý kiến:
- - Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, nguyên đơn và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
- - Về nội dung:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, có cơ sở xác định ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 chưa thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (V) số tiền nợ gốc 389.852.935 đồng và tiền lãi phát sinh, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền này.
Các yêu cầu khác của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 đăng ký thường trú tại đường N, tổ B, khu phố G, phường C, thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương. Theo kết quả xác minh ngày 19/4/2024: Ông H1, bà T2 không còn cư trú tại địa chỉ trên; ông H1 và bà T2 chuyển đi sinh sống ở đâu địa phương không nắm rõ.
Theo Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 12 Luật cư trú năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013), điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nơi cư trú cuối cùng của bị đơn ông Trần Công H1, bà Vũ Thị T2 được xác định là đường NH2, tổ B, khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Theo kết quả xác minh ngày 19/4/2024 về việc cư trú của ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2, xét thấy việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng không đảm bảo cho người được cấp, tống đạt, thông báo là ông H1, bà T2 nhận được thông tin về văn bản được cấp, tống đạt, thông báo. Do đó, Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về việc thụ lý vụ án; thời gian, địa điểm mở họp phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thời gian, địa điểm mở phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên, ông H1, bà T2 không có mặt theo thời gian đã được thông báo.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (V) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Trần Công H1, bà Vũ Thị T2 thanh toán số tiền nợ gốc là 389.852.935 đồng (tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm) và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số 569/20/TD/OTO772MOT-1 ngày 30/10/2020; đồng thời yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
Bị đơn ông Trần Công H1, bà Vũ Thị T2 không có yêu cầu phản tố, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ về vụ việc cho Tòa án.
[4] Xét tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì thấy:
Giữa VCB và ông H1, bà T2 có ký kết hợp đồng tín dụng số 569/20/TD/OTO772MOT-1 ngày 30/10/2020.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông H1 và bà T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với VCB.
Đến thời điểm khởi kiện (ngày 12/10/2023), ông H1, bà T2 còn nợ số tiền như sau:
- - Nợ gốc: 389.852.935 đồng;
- + Nợ lãi: 17.696.532 đồng;
- + Lãi phạt chậm trả gốc: 637.891 đồng.
Căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, VCB khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H1, bà T2 thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc nêu trên là có cơ sở chấp nhận.
Tiền lãi phát sinh Ngân hàng yêu cầu ông H1, bà T2 có nghĩa vụ thanh toán bao gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt do chậm trả gốc. Xét thấy, thỏa thuận tại Điều 6 của Hợp đồng tín dụng số 569/20/TD/OTO772MOT-1 ngày 30/10/2020 đã ký kết giữa hai bên có thỏa thuận về lãi suất, lãi quá hạn và phạt do chậm trả gốc. Đến nay đã quá thời hạn thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H1, bà T2 phải tiền lãi phát sinh là phù hợp với các điều khoản thỏa thuận giữa hai bên và quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối chiếu các điều khoản của Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên, bảng tính lãi và sao kê giao dịch đối với khoản vay, có cơ sở xác định đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 13/8/2024), ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 còn nợ VCB khoản nợ gốc và lãi phát sinh như sau:
- + Nợ gốc: 389.852.935 đồng;
- + Nợ lãi: 49.261.803 đồng;
- + Lãi phạt chậm trả gốc: 5.376.099 đồng.
Tổng cộng: 444.490.837 đồng.
Xét, cần buộc ông H1, bà T2 thanh toán các khoản tiền trên cho VCB.
[5] Về việc xử lý tài sản thế chấp:
VCB yêu cầu Tòa án xem xét: Trong trường hợp ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì VCB được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của ông H1, bà T2 tại VCB là: 01 (một) xe ô tô loại 05 chỗ, biển số 61A-835.72, nhãn hiệu Vinfast, màu sơn: Đen; số máy: 50028VF20SED, số khung: 2RSGLV000404; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 136990 do Phòng C – Công an tỉnh B cấp ngày 26/10/2020 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số 569/20/TC/OTO772 ngày 30/10/2020, đã đăng ký giao dịch bảo đàm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng số CE20061456BD, ngày 30/10/2020. Thực hiện hợp đồng thế chấp, ông H1, bà T2 giao cho VCB giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 136990, cấp ngày 26/10/2020; ông H1, bà T2 quản lý, sử dụng xe ô tô biển số 61A-835.72.
Ông H1, bà T2 không đến Tòa án tham gia tố tụng. Hiện không rõ tài sản thế chấp là xe ô tô biển số 61A-835.72 đang ở đâu nên VCB yêu cầu Tòa án không tiến hành xem xét, thẩm định và định giá đối với tài sản thế chấp.
Xét Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số 569/20/TC/OTO772 ngày 30/10/2020 là giao dịch dân sự có bảo đảm, đã tuân thủ đúng các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm nên là cơ sở pháp lý làm pháp sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Do đó, yêu cầu của VCB về việc xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô biển số 61A-835.72 để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản nợ của ông Trần Công H1, bà Vũ Thị T2 tại VCB là có cơ sở chấp nhận.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nguyên đơn yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, do đó lệ phí thông báo này do nguyên đơn chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 40, Điều 292, Điều 293, Điều 299, Điều 317, Điều 320, Điều 321, Điều 322 và Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, Điều 180, điểm e khoản 1 Điều 192, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N đối với bị đơn ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền nợ gốc 389.852.935 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 13/8/2024 là 54.637.902 đồng, tổng cộng: 444.490.837 đồng (bốn trăm bốn mươi bốn triệu, bốn trăm chín mươi nghìn, tám trăm ba mươi bảy đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 569/20/TD/OTO772MOT-1 ngày 30/10/2020 ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh B với ông Trần Công H1, bà Vũ Thị T2.
Kể từ ngày 14/8/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ, ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N tiền lãi phát sinh trên dư nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 569/20/TD/OTO772MOT-1 ngày 30/10/2020.
Trường hợp ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 không thanh toán toàn bộ các khoản nợ trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: 01 (một) xe ô tô loại 05 chỗ, biển số 61A-835.72, nhãn hiệu Vinfast, màu sơn: Đen; số máy: 50028VF20SED, số khung: 2RSGLV000404; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 136990 do Phòng C – Công an tỉnh B cấp ngày 26/10/2020 (theo Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số 569/20/TC/OTO772 ngày 30/10/2020, đã đăng ký giao dịch bảo đàm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng số CE20061456BD, ngày 30/10/2020).
Trong thường hợp toàn bộ tài sản thế chấp được xử lý nhưng không đủ để thanh toán các khoản nợ thì ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 phải có trách nhiệm trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Công H1 và bà Vũ Thị T2 phải chịu số tiền 21.779.633 đồng (hai mươi mốt triệu, bảy trăm bảy mươi chín nghìn, sáu trăm ba mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N 10.163.747 đồng (mười triệu, một trăm sáu mươi ba nghìn, bảy trăm bốn mươi bảy đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000842 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ) B, tỉnh Bình Dương.
3. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N phải chịu 5.406.000 đồng (năm triệu, bốn trăm lẻ sáu nghìn đồng), đã thanh toán xong.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
5. Về quyền yêu cầu thi hành án dân sự:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số Số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân |
8
Bản án số 124/2024/DS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 124/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
