|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/DS-ST
Ngày: 13/8/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Phạm Thu Hồng
- Bà: Trần Thị Kim Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 (tên viết tắt V).
- Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường T, phường L, Quận H, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
- Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn R – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 – Chi nhánh B.
- Địa chỉ: Số E, Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tấn T1 – Chức vụ: Phó trưởng phòng khách hàng - Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 – Chi nhánh B. Có mặt.
- Địa chỉ: Số E, Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- + Bị đơn: Ông Ngô Hồng T2, sinh năm: 1995. Vắng mặt.
- Địa chỉ: Số C, tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần K.
- Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường T, phường H, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Quốc T3 – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Lê Uyên T4, sinh năm: 2001 – Địa chỉ: Số H N, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2023 của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phầN2 (viết tắt TMCP) Ngoại thương Việt Nam, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn T1 trình bày:
Ngân hàng TMCP N2 và ông Ngô Hồng T2 có ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 181/VCB/22CD ngày 25/7/2022 như sau:
- Số tiền cho vay là 8.040.000.000 đồng.
- Số tiền đã giải ngân: 7.463.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Thanh toán tiền mua nhà tại lô số PTM1-06 (A2-06) và Lô số PTM4-04 (A4-04) của dự án Khu nhà ở S tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay.
- Phương thức cho vay: Cho vay từng lần.
- Lãi suất cho vay:
Trong thời gian áp dụng lãi suất cố định: Áp dụng Chương trình cho vay “An tâm lãi suất 2022”, kỳ hạn cố định lãi suất là 36 tháng tính từ thời điểm giải ngân cho các khoản giải ngân thuộc hợp đồng cho vay dài hạn được ký kết và rút vốn trong thời gian triển khai Chương trình. Trường hợp Hợp đồng vay có nhiều lần giải ngân: khoản giải ngân trong tháng nào sẽ áp dụng theo mức lãi suất cố định của tháng đó. Lãi suất cho vay cố định trong vòng 36 tháng kể từ ngày giải ngân.
Sau thời gian áp dụng lãi suất cố định: Áp dụng lãi suất cho vay bằng lãi suất huy động tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi cuối kỳ đối với Khách hàng cá nhân của Ngân hàng C (+) 4%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay dài hạn của sản phẩm cho vay mua, xây, sửa bất động sản tiêu dùng dành cho Khách hàng cá nhân theo sản phẩm chuẩn theo thông báo lãi suất cho vay VNĐ của Ngân hàng tại thời điểm đó. Kỳ điều chỉnh lãi suất là 03 tháng/lần sau 36 tháng kể từ ngày giải ngân trong hiệu lực của Hợp đồng cho vay. Ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng thông qua phương thức: Gọi điện thoại hoặc tin nhắn hoặc bằng văn bản khi có sự thay đổi về mức lãi suất đang áp dụng cho khách hàng.
Trường hợp khoản vay chuyển nợ không đủ tiêu chuẩn (phân loại nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5): Áp dụng lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay sau thời gian áp dụng lãi suất cố định. Kỳ điều chỉnh lãi suất là 03 tháng/lần trong hiệu lực của Hợp đồng cho vay. Ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng thông qua phương thức: gọi điện thoại hoặc tin nhắn hoặc bằng văn bản khi có sự thay đổi về mức lãi suất đang áp dụng cho khách hàng.
Lãi suất cho vay trong hạn: 10,8%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi phạt chậm trả: 10% số tiền lãi quá hạn.
Tài sản đảm bảo hợp đồng vay là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai giữa chủ đầu tư và khách hàng nên giữa Công ty Cổ phần K và ông Ngô Hồng T2 với Ngân hàng TMCP N2 có ký kết Hợp đồng hợp tác ba bên ngày 25/7/2022. Trên cơ sở thống nhất giữa các bên, ông T2 có thế chấp cho Ngân hàng các tài sản như sau:
- Thế chấp tài sản là Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A2-06/HĐMBN-2022 ngày 20/02/2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Ngô Hồng T2. Đặc điểm căn nhà: Loại nhà ở: Nhà phố thương mại, lô số: PTM1-06 (A2-06), đường H, số tầng: Trệt + 2 lầu, diện tích đất: 158.3m², diện tích xây dựng: 88 m², tổng diện tích sàn xây dựng: 272 m², mục đích dùng để ở, thời gian sử dụng lâu dài, kết cấu nhà: Tường gạch, sàn BTCT theo quy hoạch nhà ở thương mại tại S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Thế chấp tài sản là Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A4-04/HĐMBN-2022 ngày 20/02/2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Ngô Hồng T2. Đặc điểm căn nhà: Loại nhà ở: Nhà phố thương mại, lô số: PTM4-04 (A4-04), đường C, số tầng: Trệt+ 2 lầu, diện tích đất: 90 m², diện tích xây dựng: 59 m², tổng diện tích xây dựng: 184 m², mục đích dùng để ở, thời gian sử dụng lâu dài, kết cấu nhà: Tường gạch, sàn BTCT theo quy hoạch nhà ở thương mại tại S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Các tài sản trên được mô tả theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 178/NHNT/TC22 ngày 25 tháng 07 năm 2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP N2 và ông Ngô Hồng T2 được công chứng tại Văn Phòng C1, địa chỉ: E, Khu phố C, phường P, Thành phố B, tỉnh Bến Tre ngày 25/07/2022 và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/07/2022 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong qúa trình thực hiện hợp đồng, ông T2 đã rút số tiền vay là 7.463.000.000 đồng (theo giấy nhận nợ ngày 26/7/2022). Ông T2 không thực hiện việc thanh toán nợ khi đến hạn cho N hàng nên khoản tiền vay của ông T2 đã chuyển sang nợ qua hạn từ ngày 06/6/2023. Tính đến ngày 08/11/2023, tổng dư nợ của ông Ngô Hồng T2 (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại V là: 7.608.496.766 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 7.183.091.550 đồng, Nợ lãi: 414.447.480 đồng, N1 lãi quá hạn: 408.071.256 đồng, lãi phạt nợ quá hạn: 10.957.736 đồng.
V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Ngô Hồng T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng nhưng ông T2 không thực hiện. Việc ông T2 liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của V gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của V.
Nay, V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên buộc ông Ngô Hồng T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V toàn bộ số tiền vay và tiền lãi tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến ngày 12/08/2024 là: 8.238.134.639 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 7.183.091.550 đồng, lãi trong hạn: 14.189.066 đồng, lãi quá hạn: 967.407.771 đồng, lãi phạt chậm trả: 73.446.252 đồng.
- Tuyên buộc ông Ngô Hồng T2 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 181/VCB/22CD ngày 25 tháng 07 năm 2022 kể từ ngày tiếp theo ngày 12/11/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc cho V.
- T5 nếu ông Ngô Hồng T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì V có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Ngô Hồng T2 theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 178/NHNT/TC22 ngày 25 tháng 07 năm 2022 giữa Ngân hàng TMCP N2 và ông Ngô Hồng T2 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho V thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Ngô Hồng T2 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn ông Ngô Hồng T2 vắng mặt nhưng trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án có gửi đơn yêu cầu Tòa án xem xét thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông T2 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân nơi cư trú của bị đơn để giải quyết theo thẩm quyền.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần K vắng mặt nên không có lời trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án là chưa đúng quy định tại Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dụng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 463, 466, 468 BLDS; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định liên quan đến án phí, lệ phí:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N2; Buộc ông T2 trả số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 12/8/2024 là 8.238.134.639 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 7.183.091.550 đồng và nợ lãi là 1.055.043.089 đồng, đồng thời yêu cầu tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận từ ngày 13/8/2024 cho đến khi trả xong nợ.
- Trường hợp, ông T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận; căn vào thỏa thuận hợp tác ba bên, Ngân hàng được quyền yêu cầu ông T2 và Công ty Cổ phần K giao tài sản để phát mãi để thu hồi nợ.
- Án phí và chi phí tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe nguyên đơn phát biểu tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án đối với bị đơn là ông Ngô Hồng T2 và người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của Công ty Cổ phần K đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng ông T2 và người đại diện của Công ty Cổ phần K vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tòa án đã tiến hành việc cấp tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai cho ông Ngô Hồng T2 và người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của Công ty Cổ phần K để đưa vụ án ra xét xử nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 khởi kiện yêu cầu ông Ngô Hồng T2 trả số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có văn bản lựa chọn Tòa án giải quyết theo nơi thực hiện hợp đồng là Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre và tại Điều 9.3 của Hợp đồng ba bên ngày 25/7/2022, các bên có thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nơi Ngân hàng có trụ sở nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 và điểm g Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, việc ông T2 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân nơi cư trú của bị đơn để giải quyết theo thẩm quyền là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Về nội dung vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 yêu cầu ông T2 trả số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 12/8/2024 là 8.238.134.639 đồng. Trong đó gồm: Nợ gốc: 7.183.091.550 đồng, lãi trong hạn: 14.189.066 đồng, lãi quá hạn: 967.407.771 đồng, lãi phạt chậm trả: 73.446.252 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi theo thoả thuận từ ngày 13/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp, ông T2 không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[4] Bị đơn, ông T2 và người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần K vắng mặt, không có cung cấp chứng cứ hay phản đối gì đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả về việc không cung cấp chứng cứ theo Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Căn cứ lời khai của các đương sự trong vụ án, cùng các tài liệu, chứng cứ thể hiện: Ngân hàng TMCP N2 có quan hệ tín dụng với ông Ngô Hồng T2 thông qua Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 181/VCB/22CD lập ngày 25/7/2022 để vay tổng số tiền vay là: 8.040.000.000 đồng, phương thức cho vay từng lần, lãi suất cho vay trong hạn: 10,8%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi phạt chậm trả: 10% số tiền lãi quá hạn, mục đích vay thanh toán tiền mua nhà, phương thức thanh toán: Trả nợ gốc và lãi vào ngày 05 hàng tháng. Thông qua giải ngân số tiền là 7.463.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 26/7/2022.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T2 không thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận của hợp đồng vay và để nợ quá hạn từ ngày 06/6/2023. Ngân hàng đã thông báo, nhắc nhở nhiều lần nhưng ông T2 vẫn không thực hiện việc trả nợ là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay và tiền lãi phát sinh đến ngày 12/8/2024 với số tiền 8.238.134.639 là có căn cứ. Theo bản chiết tính thu nợ vay của Ngân hàng về số tiền vốn vay, lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi của khoản tiền vay là chính xác, lãi suất vay hai bên thỏa thuận không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Ngoài ra, ông T2 còn phải tiếp tục trả lãi đối với toàn bộ số nợ còn lại kể từ ngày 13/8/2024 theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.
[6] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về trường hợp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:
Xét, Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai: Số A2-06/HĐMBN-2022 và hợp đồng số A4-04/HĐMBN-2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Ngô Hồng T2. Hợp đồng hợp tác ba bên ngày 25/7/2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Ngô Hồng T2 với Ngân hàng TMCP N2 đã thực hiện đúng quy định khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 178/NHNT/TC22 ngày 25 tháng 7 năm 2022 ký giữa Ngân hàng TMCP N2 và ông Ngô Hồng T2 được công chứng tại Văn phòng C1 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định tại Điều 4, 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo nội dung thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Công ty cổ phần K vắng mặt và không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng. Cho nên, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là 02 căn nhà theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai của Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 178/NHNT/TC22 ngày 25 tháng 7 năm 2022 được ký giữa Ngân hàng và ông Ngô Hồng T2 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Trường hợp, ông Ngô Hồng T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N2 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà thuộc: Lô PTM1-06 (A2-06) và lô số PTM4-04 (A4-04) của dự án Khu nhà ở S tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre để thu hồi nợ.
[7] Do ông T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận nên căn vào thỏa thuận hợp tác ba bên, Ngân hàng được quyền yêu cầu ông T2 và Công ty Cổ phần K giao tài sản để phát mãi thu hồi nợ.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Ngân hàng N2 không phải chịu án phí nên được hoàn trả cho số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.
Ông Ngô Hồng T2 phải chịu số tiền án phí là 8.238.134.639 đồng = 112.000.000 đồng + (0,1x 4.238.134.639 đồng) = tính tròn là 116.238.000 đồng.
[9] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, điểm g Khoản 1 Điều 40, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều Điều 108, 295, 299, 301, 303, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NĐ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 đối với bị đơn là ông Ngô Hồng T2 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc ông Ngô Hồng T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 số tiền vay vốn và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 12/8/2024 là: 8.238.134.639 đồng (Tám tỷ hai trăm ba mươi tám triệu một trăm ba mươi bốn nghìn sáu trăm ba mươi chín đồng). Trong đó: Nợ gốc: 7.183.091.550 đồng, lãi trong hạn: 14.189.066 đồng, lãi quá hạn: 967.407.771 đồng, lãi phạt chậm trả: 73.446.252 đồng.
- Buộc ông Ngô Hồng T2 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 181/VCB/22CD ngày 25 tháng 07 năm 2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 với ông Ngô Hồng T2 kể từ ngày 13/8/2024 cho đến khi ông T2 trả xong nợ cho Ngân hàng.
- Trường hợp, ông Ngô Hồng T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 178/NHNT/TC22 ngày 25 tháng 07 năm 2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 và Ngô Hồng T2 để thu hồi nợ. Cụ thể:
- Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A2-06/HĐMBN-2022 ngày 20/02/2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Ngô Hồng T2. Đặc điểm căn nhà: Loại nhà ở: Nhà phố thương mại, lô số: PTM1-06 (A2-06), đường H, số tầng: Trệt + 2 lầu, diện tích đất: 158.3m², diện tích xây dựng: 88 m², tổng diện tích sàn xây dựng: 272 m², kết cấu nhà: Tường gạch, sàn BTCT theo quy hoạch nhà ở thương mại tại S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A4-04/HĐMBN-2022 ngày 20/02/2022 giữa Công ty Cổ phần K và ông Ngô Hồng T2. Đặc điểm căn nhà: Loại nhà ở: Nhà phố thương mại, lô số: PTM4-04 (A4-04), đường C, số tầng: Trệt+ 2 lầu, diện tích đất: 90 m², diện tích xây dựng: 59 m², tổng diện tích xây dựng: 184 m², kết cấu nhà: Tường gạch, sàn BTCT theo quy hoạch nhà ở thương mại tại S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Công ty Cổ phần K có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 trong việc xử lý tài sản thế chấp.
Trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Ngô Hồng T2 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 57.804.000 đồng (Năm mươi bảy triệu tám trăm lẻ bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000957 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Ông Ngô Hồng T2 có nghĩa vụ nộp số tiền án phí là: 116.238.000 đồng (Một trăm mười sáu triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo, các đương sự vắng mặt tại toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thuý Hằng |
8
9
Bản án số 124/2024/DS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 124/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP N và Ngô Hồng T
