Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẾ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/DS-ST

Ngày: 12 - 7 - 2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tăng Thị Bạch Vân;

Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2024/TLST-DS, ngày 12 tháng 4 năm 2024, về tranh chấp Hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2024/QĐXXST-DS, ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 166/2024/QĐST-DS, ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị V, sinh ngày: 01/01/1977; Địa chỉ: Ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1966
  2. Ông Đinh Hoàng V1

Cùng địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo Đơn khởi kiện ngày 08//3/2024 và các tài liệu chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị V trình bày:

Nguyên bà có tham gia các dây hụi, do bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V1 làm chủ hụi, trong quá trình tham gia chơi hụi, bà đã đóng hụi sống cho bà T nhưng đến nay họ không giao tiền hụi cho bà, cụ thể như sau:

- Dây 01: Hụi tháng 5.000.000 đồng, mở ngày 01/5/2021 âm lịch, có 25 phần, bà tham gia 02 phần, tên trong danh sách hụi ghi “Vân Nam L", bà đóng hụi sống được 18 lần, tính hụi có lãi thì bà đóng được số tiền: 5.000.000 đồng x 18 lần x 01 phần = 180.000.000 đồng. Dây hụi này bà T ngưng hụi và bà không giao trả tiền hụi cho bà, nhưng người nào có hụi chết thì bà T, ông V1 vẫn đi gom tiền hụi chết. Vì vậy bà yêu cầu bà T và ông V1 có trách nhiệm trả lại số tiền của dây hụi này là 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng).

Dây 02: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 15/6/2022 âm lịch, có 25 phần, bà tham gia 02 phần, tên trong danh sách hụi ghi “Vân NL”, bà đóng hụi sống được 03 lần, tính hụi có lãi thì bà đóng được số tiền: 2.000.000 đồng x 03 lần x 02 phần = 12.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 11/2022 dương lịch, bà T bể hụi và không khui nữa. Vì vậy, yêu cầu bà T và ông V1 có trách nhiệm trả lại số tiền dây hụi này là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Tổng cộng số tiền 02 dây hụi bà T, ông Vũ t bà là: 180.000.000 đồng + 12.000.000 đồng = 192.000.000 đồng (Một trăm chín mươi hai triệu đồng).

Do bà còn thiếu tiền hụi chết của bà T, ông V1 là 30.000.000 đồng, nên khấu trừ thì tổng số tiền bà T, ông V1 còn thiếu bà là: 192.000.000 đồng – 30.000.000 đồng = 162.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu đồng).

Nay bà V yêu cầu tòa án huyện K, tỉnh Sóc Trăng xem xét và giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V1 phải có trách nhiệm liên đới trả lại tổng số tiền hụi còn thiếu là 162.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu đồng), bà không yêu cầu tính lãi.

*Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V1 đều vắng mặt, không tham gia tố tụng, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Về tố tụng

[1] Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không rõ lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét thấy: Giữa nguyên đơn và bị đơn có thoả thuận và giao kết hợp đồng góp hụi với nhau, theo hai dây hụi mùa mà nguyên đơn đã trình bày, trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nên đây là giao dịch dân sự hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[3] Căn cứ vào các danh sách hụi viên mà nguyên đơn cung cấp, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thông báo cho bị đơn biết về việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả số tiền hụi 162.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi bất kì văn bản nào trình bày ý kiến của mình, cũng như không phản đối những tình tiết, sự kiện mà nguyên đơn đưa ra. Cho nên, đây là những tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Tại khoản 1 Điều 351 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”. Tại khoản 1 Điều 471 của Bộ luật này quy định: “Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên”.

[5] Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 166, 351, 357 và 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 91, 92 và 93 của Bộ luật dân sự năm 2015; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới trả tổng số tiền nợ hụi 162.000.000 đồng.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên bà V không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Bà T, ông V1 phải liên đới chịu án phí có giá ngạch là 162.000.000 đồng x 5% = 8.100.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, các điều 91, 92, và 93, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 166, 351, 357 và 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V, buộc bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đinh Hoàng V1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà V tổng số tiền nợ hụi là 162.000.000 đồng.
  2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà T và ông V1 phải liên đới chịu 8.100.000 đồng, bà V không phải chịu và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.050.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003713, ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
  4. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Kế Sách;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADSH Kế Sách (khi đã có hiệu lực);
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vinh Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 124/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐ góp hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger