Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thụ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Quốc Khôi

Bà Hoàng Thị Hường

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, tổ chức xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 557/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Thị Đ; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 04/6/1997 tại: huyện T, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 11/12 phổ thông. Họ và tên cha: Lý Văn C (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Y, sinh năm 1973; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con cả trong gia đình. Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến ngày 06/8/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 50 phút ngày 09/5/2024 tại xóm H, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C phối hợp với Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Lý Thị Đ (sinh năm 1997; trú tại: L, Đ, T, Cao Bằng) có hành vi buôn bán hàng cấm (pháo). Vật chứng thu giữ: 15 khối hình hộp, có bao bì màu đỏ, vàng có nhiều chữ Trung Quốc, cùng kích thước 15 x 15 x 14cm; 01 điện thoại di động OPPO; 01 xe mô tô biển kiểm soát 11B1 – 040.25.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã tiến hành xác minh, điều tra, đủ căn cứ xác định: Ngày 06/5/2024, có một người đàn ông sử dụng tài khoản Facebook là “Nông Đạt” kết bạn và nhắn tin nói chuyện với Lý Thị Đ về giá cả hàng hóa buôn bán ở khu vực biên giới, sau đó để nói chuyện thuận tiện Đ đã gửi số điện thoại của mình là 0325.935.xxx cho Đ1 kết bạn bằng ứng dụng Wechat. Đến trưa ngày 07/5/2024, Đ1 hỏi Đ có mua pháo Trung Quốc về bán cho Đ1 được không, loại 36 (ba mươi sáu) ống phóng và loại pháo cuộn 05m (năm mét), vì đang cần tiền chữa bệnh cho mẹ nên Đ đồng ý, khi nào lấy được pháo sẽ thông báo sau. Trước đó, Đ nghe người làng Lũng P nói ở gần khu vực hàng rào biên giới Việt Nam - Trung Quốc có người đàn ông Trung Quốc bán pháo nên khoảng 13 giờ ngày 07/5/2024, Đ đi chăn thả bò rồi men theo đường mòn đến khu vực biên giới thì thấy một người đàn ông Trung Quốc khoảng 50 tuổi. Đèm hỏi và đặt mua 10 (mười) hộp pháo với người này và hẹn khoảng 15 giờ chiều ngày 09/5/2024 sẽ giao nhận pháo. Đèm nhắn tin cho Đ1 là đã đặt được 10 (mười) hộp pháo loại 36 (ba mươi sáu) ống phóng với giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng), địa điểm giao nhận pháo khoảng 18 đến 19 giờ ngày 09/5/2024 ở khu vực đầu xóm H, Đ, T, Cao Bằng.

Khoảng 16 giờ ngày 09/5/2024 người đàn ông Trung Quốc mang theo 02 bao tải chứa 15 hộp pháo đến địa điểm hẹn thuộc địa phận Việt Nam, Đ đồng ý mua hết với giá 750NDT (bảy trăm năm mươi Nhân dân tệ) rồi mang về nhà. Sau đó, Đ trao đổi lại thì Đ1 chỉ mua 10 hộp, còn 05 hộp sẽ để chuyến sau mua. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi Đ1 thông báo đã đến chỗ hẹn, Đ chia pháo vào hai bao tải dứa, 04 hộp để ở giá hàng phía trước, 06 hộp để ở yên sau xe mô tô biển kiểm soát 11B1 – 040.25 rồi điều khiển xe đi bán cho Đ1. Khi đang trên đường di chuyển đến điểm hẹn, lo sợ bị phát hiện nên Đ đi nhanh và làm rơi bao tải đựng 06 hộp pháo ở cạnh đường, đi được khoảng 50m (năm mươi mét) thì bị Cơ quan Công an phát hiện. Sau đó Đ khai báo về việc còn cất giấu 05 hộp pháo tại phòng ngủ của gia đình. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Đ và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngày 10/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định đối với vật chứng thu giữ, xác định: Tổng khối lượng của 15 khối hình hộp là 21,5kg (Hai mốt phẩy năm kilôgam).

Ngày 13/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ra Quyết định trưng cầu giám định số 391 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh C giám định pháo. Tại Kết luận giám định số 282/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh C, kết luận: “Các mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ”.

Hành vi của Lý Thị Đ đã bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 71CT-VKSCB-P1 ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lý Thị Đ về tội buôn bán hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

2

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội buôn bán hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội và ăn năn hối cải; Bị cáo là lao động chính trong gia đình; Trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa bị xử lý hành chính hay vi phạm pháp luật lần nào; Bị cáo có nhân thân tốt, do đó bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo đủ căn cứ để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Thị Đ từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, Giao bị cáo cho UBND xã Đ nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng 21,5kg là pháo nổ (Hội đồng tiêu hủy vật chứng đã tiêu hủy xong số pháo trên vào ngày 30/7/2024);

Đối với 01 (Một) điện thoại di động bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; Trả lại bị cáo 01 xe máy (là xe của bố bị cáo mua) để sử dụng; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Lý Thị Đ nhất trí với cáo trạng và luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, năn năn hối cải và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, được áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo để có sửa chữa lỗi lầm và lo chăm sóc mẹ bị bệnh tật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Lý Thị Đ tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản tự khai; Biên bản ghi lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai bị cáo tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chứng minh: Hồi 18 giờ 50 phút ngày 09/5/2024 tại xóm H, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C phối hợp với Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Lý Thị Đ có hành vi buôn bán hàng cấm (pháo nổ) với tổng khối lượng là 21,5kg (Hai mốt phẩy năm kilôgam). Số pháo trên Đèm mua về nhằm mục đích để bán kiếm lời nhưng đã bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Lý Thị Đ đã phạm vào tội buôn bán hàng cấm, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ...

c, Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam

...”

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào;

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau: Tại cơ quan điều tra và tại tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội và ăn năn hối cải; Bị cáo là lao động chính trong gia đình, vì cần tiền lo chữa bệnh cho mẹ nên đã thực hiện hành vi phạm tội; Trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa bị xử lý hành chính hay vi phạm pháp luật lần nào; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa được hưởng lợi từ hành vi mua pháo về để bán, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo còn có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo án treo nhằm thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của Nhà nước, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội là có căn cứ.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

4

+ Vật chứng bị thu giữ là 21,5kg pháo nổ (đã được Hội đồng tiêu hủy vật chứng tiêu hủy xong số pháo trên vào ngày 30/7/2024);

+ Vật chứng điện thoại di động bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước;

+ Chiếc xe máy bị tạm giữ là xe của bố bị cáo mua, khi bị cáo mang xe đi chở pháo gia đình không biết nên cần trả lại xe chủ sở hữu (mẹ bị cáo) quản lý sử dụng theo quy định.

[7] Các nhận định khác: Đối với người đàn ông tên Đ1 và người đàn ông Trung Quốc mua và bán pháo với Đ, qua xác minh Đ không biết rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Về tội danh: Bị cáo Lý Thị Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

2. Về hình phạt và Điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Thị Đ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/9/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng giám sát giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02(hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “Điện thoại di động của Lý Thị Đ - Bị can (SN: 1997, trú tại: xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng)", mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C.
  • - Trả lại 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 11B1-040.25, loại xe: Hai bánh từ 50- 175cm³, nhãn hiệu: YAMAHA số loại: JUPITER, màu sơn: Trắng Đen, số máy: 5B95139599, số khung: RLCJ5B950CY139604, dung tích xi lanh: 110cm³, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2012, xe đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu bên trái, yếm xe nứt, vỡ đã được buộc lại bằng dây kim loại, vỏ xe có nhiều vết trầy xước đã cũ, có 01 chìa khóa xe kèm theo, (trả cho bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1973, trú tại L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng quản lý sử dụng).

Qua kiểm tra thực tế số khung, số máy của xe mô tô trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 31/7/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh C.

(Xác nhận các vật chứng trên được chuyển giao cho Cục THADS tỉnh C theo biên bản giao nhận vật chứng số 147 ngày 06/9/2024).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lý Thị Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh CB;
  • - CQCSĐT - CA tỉnh CB;
  • - Phòng HS Công an tỉnh CB;
  • - Sở Tư pháp CB;
  • - Cục THA dân sự tỉnh CB;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án;
  • - Lưu tòa HS.

6

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Văn Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 18 giờ 50 phút ngày 09/5/2024 tại xóm H, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C phối hợp với Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Lý Thị Đ có hành vi buôn bán hàng cấm (pháo nổ) với tổng khối lượng là 21,5kg (Hai mốt phẩy năm kilôgam). Số pháo trên Đèm mua về nhằm mục đích để bán kiếm lời nhưng đã bị bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger