|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2024/DS-ST Ngày 10 - 9 - 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Lộc
Ông Trần Văn Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 305/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275/2024/QĐXXST–DS ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972;
Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Phan Thị N1, sinh năm 1969; (có mặt)
Ông Trương Văn K; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Văn H;
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Do bà N1 và bà là bạn bè lâu năm nên khi bà N1 hỏi mượn tiền bà có cho vợ chồng ông Trương Văn K và bà Phan Thị N1 mượn tổng số tiền 9.000.000 đồng để xuống mối cho con. Lần đầu ngày 17/12/2022 bà N đưa 2.000.000 đồng bà N1 trực tiếp nhận tiền và có ông K, ngày 18/12/2022 anh Trương Văn H nhận 7.000.000 đồng tại tiệm V, xã T, huyện T, khi cho mượn không có làm giấy nhận nợ. Để có số tiền cho bà N1 và ông K mượn bà đã đem cầm 05 chỉ vàng 24K tại tiệm V với số tiền 9.000.000 đồng, sau đó bà đã chuộc lại vàng đã cầm với số tiền lãi là 1.584.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà Phan Thị N1 và ông Trương Văn K trả cho bà số tiền 9.000.000 đồng đã mượn; đối với yêu cầu về lãi suất tại phiên tòa bà N rút yêu cầu này, ngoài ra không yêu cầu khác.
* Bị đơn bà Phan Thị N1 trình bày:
Bà N1 xác định bà có nhận tổng số tiền 9.000.000 đồng của bà N như bà N đã trình bày (bà trực tiếp nhận 2.000.000 đồng, anh H là con ruột của bà nhận 7.000.000 đồng). Số tiền này bà N cho bà vì trước đây bà bắt gặp bà N có quan hệ bất chính với chồng bà, bà N yêu cầu bà đừng nói với chồng bà N biết thì bà N cho bà 10.000.000 đồng nhưng bà N chỉ đưa cho bà số tiền 9.000.000 đồng còn lại 1.000.000 đồng nhưng bà không yêu cầu chứ bà và ông K không có mượn nợ của bà N nên bà không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà N. Bà N1 xác định số tiền 9.000.000 đồng bà nhận của bà N là tiền bà N cho bà chứ không phải là bà và ông K vay mượn của bà N nên bà không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà N.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Trương Văn K, anh Trương Văn H, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng ông K, anh H không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, không tham gia hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự là đúng, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N đối với số tiền vốn 9.000.000 đồng. Buộc bà N1 và ông K trả cho bà N số tiền mượn là 9.000.000 đồng; tại phiên tòa bà N rút yêu cầu về số tiền lãi, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này. Về án phí dân sự sơ thẩm bà N không phải chịu, bà N1 và ông K phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông Trương Văn K, anh Trương Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông K, anh H.
[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N khởi kiện bị đơn bà Phan Thị N1 và ông Trương Văn K yêu cầu trả số tiền mượn 9.000.000 đồng và tiền lãi 1.584.000 đồng nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà N đòi lại tiền cho bà N1 và ông K mượn 9.000.000 đồng và lãi 1.584.000 đồng, thấy rằng:
Đối với số tiền vốn 9.000.000 đồng bà N yêu cầu: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà N1 thừa nhận có nhận của bà N 02 lần, tổng số tiền là 9.000.000 đồng (bà N1 nhận trực tiếp 01 lần 2.000.000 đồng, anh H con bà N1 nhận giùm bà N1 01 lần 7.000.000 đồng), nhưng đó là số tiền bà N cho bà N1 chứ không phải tiền bà N1 và ông K mượn của bà N nhưng không được bà N thừa nhận số tiền 9.000.000 đồng là tiền bà N cho bà N1. Tại phiên tòa hôm nay, bà N1 cũng không chứng minh được số tiền này bà N cho bà N1; đối với ông K không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự: “ ... Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết... mà bên đương sự đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh...”. Mặc dù, bà N1 xác định số tiền 9.000.000 đồng bà N1 nhận của bà N thì ông K chồng của bà N1 không biết nhưng bà N1 thừa nhận số tiền này bà N1 sử dụng chung cho mọi chi phí trong gia đình (của bà N1 và ông K), nên ông K phải có nghĩa vụ cùng bà N1 trả nợ cho bà N là phù hợp.
Đới với số tiền lãi 1.584.000 đồng, tại phiên tòa bà N rút yêu cầu buộc bị đơn trả tiền lãi. Hội đồng xét xử xét thấy việc rút yêu cầu khởi kiện của bà N đối với phần lãi suất là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà N được chấp nhận nên bà N không phải chịu; bà N1 và ông K phải chịu 450.000 đồng (9.000.000 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463; 466; 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N. Buộc bà Phan Thị N1 và ông Trương Văn K liên đới trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
- Kể từ ngày bà N có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền được thi hành án nếu như bà N1, ông K chưa thi hành xong số tiền phải thi hành án thì phải chịu thêm phần lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thi hành án.
- Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc buộc bà Phan Thị N1 và ông Trương Văn K trả số tiền lãi.
- Về án phí:
- - Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003922 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình.
- - Bà Phan Thị N1 và ông Trương Văn K phải chịu 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; bà N1, ông K chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |
Bản án số 124/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 124/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Ng yêu cầu bà Phan Thị Nh trả số tiền đã nhận
