TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/HS-ST
Ngày 09/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Thanh
Ông Lê Minh Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Chí Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Việt T; giới tính: nam; Sinh ngày 28/5/1990 tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: Số C N, Khối phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Trương Văn V, sinh năm 1968 và bà Võ Thị Yến H, sinh năm 1968, Cùng trú tại Khối phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Gia đình bị cáo có 02 người con, bị cáo là con đầu; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền sự: không.
Tiền án:
- Ngày 19/10/2015, bị TAND TP. Tam Kỳ xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/10/2016;
- Ngày 07/02/2018, bị TAND TP. Tam Kỳ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/12/2018;
- Ngày 21/6/2019, bị TAND TP. Tam Kỳ xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2021;
- Ngày 24/9/2021, bị TAND TP. Tam Kỳ xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2024;
Nhân thân:
- Ngày 11/02/2010, bị U ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Chị Zơ Râm Thị Trà M, sinh năm 2003; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, thị trấn T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Lê Duy A, sinh năm 1994; địa chỉ: Khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: C H, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Vắng mặt.
- + Ông Trương Văn V, sinh năm1968; địa chỉ: Khối phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 06/6/2024, Trương Việt T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu FUSACO, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 92F4 đường H, thành phố T. Khi đến trước quán C 426 3386 đi dạo trên đường H thuộc phường A thì T dừng xe nhìn vào trong quán để tìm bạn nhưng không gặp. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chạy vão đường Chu Cẩm P rồi rẽ trái qua đường bê tông hướng ra đường T. Khi đi được một đoạn thì T nhìn thấy chị Z Râm Thị Trà M (sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện N, tỉnh Quảng Nam) đang đi bộ theo hướng ngược chiều trên tay trái chị M đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Realme C21Y, T điều khiển xe mô tô áp sát vào người chị M rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại trên tay của chị M rồi điều khiển xe bỏ chạy. Chạy được một đoạn ra đến đường T, T bỏ chiếc điện thoại vừa cướp giật được vào trong túi quần lửng đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô rẽ phải chạy lên đường Nguyễn H1. T điều khiển xe chạy ngược chiều đường N đoạn khoảng 200 mét rồi rẽ trái vào đường bê tông hướng ra bùng binh đường T - H. Chạy vào đường bê tông một đoạn khoảng 100 mét thì T dừng lại lấy chiếc điện thoại đã giật được ra sau đó tháo sim trong điện thoại vứt vào bụi cây bên đường rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô chạy đi. T đem chiếc điện thoại trên đến tiệm P1 tại Số C H thuộc phường A do anh Nguyễn Lê Duy A (sinh năm 1994, trú tại Khối phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam làm chủ), T bán chiếc điện thoại trên cho anh A với giá tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau đó, T đi về nhà của mình tại Số C N thuộc Khối phố B, phường P, thành phố T, số tiền 200.000 đồng bán điện thoại mà có, T đã tiêu xài cá nhân hết.
* Tang vật tạm giữ:
- Tạm giữ của Trương Việt T: 01 xe mô tô nhãn hiệu FUSACO, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 92F4 – 3386;
- Tạm giữ của Nguyễn Minh T1 (sinh năm 1997, trú tại Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam): 01 đĩa CD bên trong có chứa 02 đoạn video, nội dung video ghi lại hình ảnh 01 người thanh niên nghi vấn liên quan đến việc cướp giật tài sản tại khu vực gần dãy nhà trọ ông Trần Thanh T2 thuộc K 426/43/03 Chu Cẩm P, Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
- Tạm giữ của Nguyễn Lê Duy A: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21Y; 01 đĩa DVD có chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh Trương Việt T đến tiệm P1 tại Số C H thuộc phường A, bán điện thoại cho anh A.
Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Realme C21Y màu xanh dương có giá trị 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng)
Tại Cáo trạng số 122/CT-VKSTK-HS ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Trương Việt T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, i, khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Việt T phạm tội “Cướp giật tài sản” áp dụng: điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo 04 năm đến 04 năm 06 tháng tháng tù.
Về Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị HĐXX tuyên:
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ 01 đĩa DVD và 01 đĩa CD có video ghi lại nội dung liên quan đến vụ án;
- Truy thu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) mà Trương Việt T phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
* Về dân sự:
- Bị hại Chị Zơ Râm Thị Trà M đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên toà, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[1.2] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.
[2.2] Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Trương Việt T đang có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản”; 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/6/2024, tại Kiệt S đường C, thuộc Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, Trương Việt T đã sử dụng xe mô tô BKS 92F4-3386 giật chiếc điện thoại di động hiệu Realme C21Y có giá trị 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng) của chị Z Râm Thị Trà M rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Hành vi trên của bị cáo Trương Việt T đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với các tình tiết định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, i, khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bị cáo thực hiện tội phạm rất manh động và công khai tại khu vực dân cư, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt tài sản của nạn nhân để tiêu xài, bất chấp cho hậu quả xảy ra. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[2.4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 11/02/2010, bị U ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
[2.5] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
[2.6] Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là cố ý, thuộc trường hợp tái phạm ảnh hưởng đến trật tự an toàn tại địa phương nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét, giải quyết.
[4] Xử lý vật chứng trong vụ án:
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ 01 đĩa DVD và 01 đĩa CD có video ghi lại nội dung liên quan đến vụ án;
- Truy thu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) mà Trương Việt T phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
[5] Những vấn đề liên quan trong vụ án:
- Đối với anh Nguyễn Lê Duy A (chủ tiệm điện thoại Nguyễn A) khi mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21Y của Trương Việt T, anh A không biết đây là tài sản do T phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Nguyễn Lê Duy A là phù hợp.
- Ông Trương Văn V để xe mô tô BKS: 92F4 - 3386 và chìa khóa xe ở nhà, Trương Việt T tự lấy chiếc xe trên sử dụng vào việc phạm tội ông V không biết nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố T không đề cập xử lý đối với ông V là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trương Việt T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trương Việt T 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 07/6/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- Tiếp tục lưu theo hồ sơ 01 đĩa DVD và 01 đĩa CD có video ghi lại nội dung liên quan đến vụ án.
- Truy thu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) mà Trương Việt T phạm tội mà có để sung ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Buộc bị cáo cáo Trương Việt T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (09/9/2024). Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Quốc Thiện |
Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM về vụ án hình sự về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 124/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Việt T - Cướp giật tài sản
