|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/DS-PT
Ngày: 09-7-2024
V/v Tranh chấp lối đi chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái
Ông Lương Thanh Chín
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Lúc 14 giờ ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 163/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp lối đi chung”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2023/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 138/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1965
- Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958
- Bà Hồ Thị M, sinh năm 1959
- Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông C và bà M tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1987. Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M
- Tại phiên tòa có mặt ông Phạm Ngọc T và bà Nguyễn Thị Thanh N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Trong đơn khởi kiện ngày 08/10/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 30/6/2023 và lời khai tại Tòa của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T trình bày:
Ngày 30/3/2017, mẹ ông là bà La Thị L, sinh năm 1932 tặng cho ông Phạm Ngọc T thửa đất số 501, diện tích 1.108m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 030946 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 22/8/2008 đứng tên La Thị L. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thể hiện có con đường dài 19m, rộng 2m gia đình ông và gia đình ông C đi chung. Do hoàn cảnh khó khăn ông phải về quê vợ ở phường P, thành phố P làm ăn sinh sống. Ngày 13/6/2020, gia đình ông Nguyễn Văn C tự ý rào hàng rào lưới B40 trên đất của ông C và rào luôn con đường đi chung có diện tích 39,9m². Ông có yêu cầu Ủy ban nhân dân xã H hoà giải nhưng ông C không chịu tháo dỡ hàng rào. Nay ông yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Hồ Thị M dỡ 07 trụ bê tông xi măng hàng rào lưới B40 cao 1,2m, dài 19m trên lối đi có diện tích 39,9m² tương ứng chiều rộng phía ngoài từ điểm “1” sang điểm “2” là 2,18m; chiều dài từ điểm “2” đến điểm “3” là 19m; chiều rộng phía trong từ điểm “8” sang điểm “3” là 1,96m như trong Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 29/01/2021.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
Gia đình ông được Nhà nước cấp thửa đất số 129, diện tích 896,5m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX177359 ngày 16/4/2015 đứng tên Nguyễn Văn C và Hồ Thị M. Nguồn gốc đất này của cha mẹ cho ông bà vào năm 2001, do diện tích đất này của ông nằm phía sau nên ông có để con đường đi dài khoảng 39,9m², ngang 2m bắt đầu từ đường bê tông vô đến ranh đất của gia đình. Diện tích đường đất mà ông T khởi kiện 39,9m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 030946 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 22/8/2008 đứng tên La Thị L đã biến động tặng cho Phạm Ngọc T. Con đường có diện tích 39,9m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 177359 ngày 16/4/2015 đứng tên Nguyễn Văn C và Hồ Thị M nên việc ông rào đất trên ranh đất ông là đúng, do đó ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc T là buộc ông tháo dỡ 07 trụ bê tông xi măng hàng rào lưới B40 cao 1,2m, dài 19m trên lối đi có diện tích 39,9m² như trong Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 29/01/2021.
* Bị đơn bà Hồ Thị M trình bày như phần trình bày của ông Nguyễn Văn C. Bà bổ sung thêm vào trước năm 1979 bà La Thị L là mẹ ông Phạm Ngọc T có trồng hàng rào bằng cây trên hàng rào lưới B40 mà bà đang trồng, khi bà L chết giao đất lại cho ông T vẫn giữ hàng rào đó, năm 2019 ông T cho cháu tên Phạm Thị M1 làm nhà ở phía sau nhà ông T, chị dâu ông T phá hàng rào cho xe chở vật liệu xây dựng vô xây nhà. Sau khi cất nhà xong không thấy ai rào lại nên vợ chồng bà rào đất lưới B40 như bây giờ, bà không có xâm phạm rào trên đất của ông T mà rào theo đường rào cũ. Bà không đồng ý yêu cầu của ông T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 05/2023/QĐ-SCBSBA ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 và khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a và điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 245, Điều 246, Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 170 Luật Đất đai.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Ngọc T, công nhận diện tích đất qua đo đạc hiện trạng là 39,9m² là lối đi chung, vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M không được ngăn cản, rào chắn lối đi chung này, buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M tháo dỡ 07 trụ bên tông xi măng làm hàng rào lưới B40 cao 1,2m, dài 19m trên lối đi có diện tích 39,9m² tương ứng chiều rộng phía ngoài từ điểm “1” sang điểm “2” là 2,18m; chiều dài từ điểm “2” đến điểm “3” là 19m; chiều rộng phía trong từ điểm “8” sang điểm “3” là 1,96m; chiều dài từ điểm “1” đến điểm “8” là 18,91m như trong Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 29/01/2021. Ông Phạm Ngọc T được sử dụng lối đi chung nêu trên (Có trích đo bản đồ vị trí hiện trạng lối đi tranh chấp kèm theo). Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23 tháng 8 năm 2023, bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu xem xét nguồn gốc của con đường đi chung thuộc đất của ai, có từ khi nào và con đường đó dẫn đi đâu.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng ý với thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định lối đi chung là 26,5m² theo kết quả đo đạc tại Tòa án cấp phúc thẩm. Diện tích đất lối đi không nằm trong giấy chứng nhận của bị đơn nhưng thuộc quyền sử dụng riêng của gia đình bị đơn theo giấy tờ gốc.
- - Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu xác định lối đi chung là 26,5m² theo kết quả đo đạc của Tòa án cấp phúc thẩm và không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
- * Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra tại phiên tòa xét thấy nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là không vượt quá yêu cầu ban đầu nên được chấp nhận và xác định lối đi chung có diện tích 26,5m² không nằm trong giấy chứng nhận của nguyên đơn và bị đơn. Nguồn gốc là đường đi, hình thành trước năm 1990 thể hiện tại bản đồ 299 (tỷ lệ 1:2000) đo đạc năm 1986 thì đường đi rộng 02m. Từ trước đến nay hai hộ nguyên đơn và bị đơn cùng sử dụng diện tích đất 26,5 m² này làm đường đi vào nhà của mình. Bị đơn cho rằng diện tích đất đường đi thuộc quyền sử dụng riêng của gia đình bị đơn nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nhưng bị đơn tự ý rào lưới B40 không cho ông T sử dụng là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T khi đi trên lối đi chung. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm về diện tích đất lối đi chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành đo đạc, kiểm tra lại hiện trạng và diện tích đất hai bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của bị đơn, xác định như sau: Bản vẽ ngày 29/01/2021 của Tòa án cấp sơ thẩm đo đạc thì có điểm 1 và điểm 8 trên bản đồ là phần đất nằm trong giấy chứng nhận của ông Nguyễn Văn C nên diện tích phần đường (lối đi chung) là không chính xác. Do đó, xác định lại lối đi chung có diện tích là 26,5m² (có kích thước các cạnh: 1-2 là 1,91m; 2-C là 3.81m; C-B là 10.73m; B-A là 0,23m; A-6 là 1.49m; 6-1 là 14.25m; có trích đo bản đồ kèm theo).
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu xác định lối đi chung là 26,5m² (theo kết quả đo đạc của Tòa án cấp phúc thẩm). Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vẫn nằm trong diện tích đất tranh chấp và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận. Bị đơn cũng đồng ý thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định lối đi chung có diện tích là 26,5m², tuy nhiên bị đơn cho rằng diện tích đất này thuộc quyền sử dụng riêng của gia đình bị đơn, không đồng ý làm lối đi chung.
[4] Theo kết quả thu thập chứng cứ tại Văn bản số 1643/UBND-NC ngày 08/6/2023 của Ủy ban nhân dân huyện H xác định diện tích đất tranh chấp tại thôn C, xã H có nguồn gốc một phần diện tích là đường đi, hình thành trước năm 1990 (thể hiện tại bản đồ 299 (tỷ lệ 1:2000) đo đạc năm 1986 thì đường đi rộng 02m); Diện tích đất tranh chấp không đưa vào Hợp tác xã quản lý, cũng không ai đăng ký kê khai trong sổ địa chính, hiện nay không thuộc trường hợp bị thu hồi đất.
Trình tự, thủ tục và nội dung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 030946, ngày 22/8/2008, đứng tên La Thị L, cập nhật biến động tặng cho quyền sử dụng sang tên ông Phạm Ngọc T vào ngày 30/3/2017 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 177359, cấp ngày 16/4/2015, đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M là đúng theo quy định của Luật Đất đai, đúng đối tượng sử dụng đất, vì nguồn gốc đất do các hộ dân có tên nêu trên tạo lập, sử dụng từ trước ngày 15/10/1993 đến thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tranh chấp.
Diện tích 1.108m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 030946, cấp ngày 22/8/2008, đứng tên La Thị L, cập nhật biến động tặng cho quyền sử dụng đất sang tên ông Phạm Ngọc T vào ngày 30/3/2017, qua đo đạc hiện trạng là 1.388,4m² chênh lệch tăng 280,4m² (1.388,4m² – 1.108m²). Diện tích 896,5m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 177359, cấp ngày 16/4/2015, đứng tên ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M, qua đo đạc hiện trạng là 981,3m² chênh lệch tăng 84,8m² (981,3m² – 896,5m²) vì sự chỉ dẫn ranh giới đất của ông Nguyễn Văn C không đúng ranh giới về hướng Đông và Tây của thửa đất được cấp tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 177359 nói trên.
[5] Như vậy, theo nội dung Công văn số 1643/UBND-NC ngày 08/6/2023 nêu trên là phù hợp với lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Diện tích đất 26,5m² mà nguyên đơn yêu cầu xác định là lối đi chung không thuộc thửa đất số 501, diện tích đất 1.108m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Phạm Ngọc T và cũng không thuộc diện tích đất 896,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 177359 cấp ngày 16/4/2015 cho ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M đang sử dụng. Diện tích 26,5m² làm đường đi này cả hai hộ cùng sử dụng làm đường đi vào nhà của mình có từ trước năm 1990 (thể hiện tại bản đồ 299 (tỷ lệ 1:2000) đo đạc năm 1986 thì đường đi rộng 02m) chứ không phải đất của ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M để làm đường đi riêng thuộc quyền sử dụng của gia đình ông C và bà M như ông bà trình bày.
Ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh lối đi trên thuộc quyền quản lý và nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông bà nhưng ông bà tự ý rào lưới B40 không cho ông T sử dụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T là không thể chấp nhận. Do đó, ông Phạm Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất tranh chấp là lối đi chung, buộc ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M không được rào chiếm, ngăn cản việc di chuyển của gia đình ông T trên lối đi chung là có căn cứ, đúng pháp luật.
[6] Do nguyên đơn thay đồi yêu cầu xác định lối đi chung có diện tích đất qua đo đạc hiện trạng là 26,5 m² nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về diện tích lối đi chung.
[7] Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
[8 ] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[9] Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M phải chịu chi phí xem xét tại chỗ và định giá tài sản là 7.495.000₫ (Bảy triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
Nguyên đơn ông Phạm Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét tại chỗ và định giá tài sản theo quy định pháp luật. Đối với số tiền tạm ứng xem xét tại chỗ và định giá tài sản là 7.495.000₫ (Bảy triệu bốn trăm chín mươi lăm ngàn đồng) mà ông Phạm Ngọc T nộp do vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M giao trả.
[10] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc phát sinh tại Tòa phúc thẩm bị đơn tự nguyện chịu số tiền 4.893.000 đồng. Số tiền này bị đơn đã nộp đủ nên không phải nộp nữa.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M là người cao tuổi, ông bà đã có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm. Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ông C và bà M được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2023/DS-ST ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
[2] Căn cứ: Khoản 2 và khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a và điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 159, Điều 169, Điều 245, Điều 246, Điều 248, Điều 254 Bộ luật dân sự; Điều 170 Luật Đất đai; Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T, xác định diện tích đất qua đo đạc hiện trạng là 26,5 m² (có kích thước các cạnh: 1-2 là 1.91m; 2- C là 3.81m; C-B là 10.73m; B-A là 0.23m; A-6 là 1.49m; 6-1 là 14.25m) là lối đi chung, tại thôn C, xã H, huyện H. Vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M không được ngăn cản, rào chắn lối đi chung. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên lối đi chung có diện tích 26,5 m² để trả lại lối đi chung.
(Có trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp ngày 02/4/2024 của Công ty TNHH T1- Đo đạc HTB kèm theo).
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Phạm Ngọc T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 475.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004547 ngày 21/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.
Vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M phải trả cho ông Phạm Ngọc T số tiền 7.495.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng) chi phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[5] Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm: Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M tự nguyện chịu số tiền 4.893.000 đồng (Bốn triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng). Số tiền này ông C và bà M đã nộp đủ nên không phải nộp nữa.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, ông Nguyễn Văn C và bà Hồ Thị M được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (09/7/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Phong Lan |
Bản án số 124/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 124/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc T kiện Nguyễn Văn C về việc "Tranh chấp lối đi chung"
