Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HSST

Ngày 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hà Văn Trường

Bà Ngô Thị Thúy Hảo

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn H - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXX-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Công T, sinh năm 2004 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Công Đ (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 01 tháng 01 năm 2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T2 (Có mặt).

Bị hại:

  1. Anh Võ Minh C, sinh năm 2000; Địa chỉ: 2 ấp T, xã T, huyện H, TP Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  2. Bà Hán Thị L1, sinh năm 1976; Địa chỉ: D đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Mã Thị S, sinh năm 1979, Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
  2. Phạm Thị U, sinh năm 1965; Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).
  3. Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1964; Địa chỉ: I đường T, Phường D, thành Phố V (Vắng mặt).
  4. Ông Trần Văn C1, sinh năm 1974; Địa chỉ: I đường T, Phường D, thành Phố V (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Công T, sinh năm 2004, bản thân không có nghề nghiệp và nơi ở nhất định. Trong ngày 01/01/2024, lợi dụng sự mất cảnh giác của người dân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản rồi mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T2, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã điều tra làm rõ 02 vụ trộm cắp tài sản cụ thể, như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 14 giờ ngày 01/01/2024, Nguyễn Công T chơi game tại cửa hàng “internet Hasaghi” ở số D đường T, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi chơi game xong, T đi ra thấy chiếc xe đạp hiệu Giant Rock màu sơn đen đỏ của khách hàng là anh Võ Minh C (sinh năm 2000; nơi thường trú: 218/5 ấp T, xã T, huyện H, TP Hồ Chí Minh) để xe ở trước khu vực cửa hàng “internet H” không ai trông giữ nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để mang bán lấy tiền tiêu xài. T đến lấy xe rồi điều khiển chạy đi. Khi đến đoạn đường N thì thấy cửa hàng kinh doanh mua bán xe đạp do chị Phạm Thị U (sinh năm 1965; nơi cư trú: xóm C, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương) làm chủ, nên T mang chiếc xe vừa trộm cắp được bán cho chị U với giá 150.000 đồng, số tiền này T tiêu xài hết.

Theo anh Võ Minh C vào ngày 01/01/2024, đã mượn 01 xe đạp hiệu Giant Rock màu sơn đen đỏ của anh Vũ Đức P để đi chơi rồi bị chiếm đoạt là chiếc xe đạp thể thao màu đen đỏ, hiệu Giant Rock – anh P mua tháng 06/2022 với giá 7.900.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐG-TTHS ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, kết luận: Xe đạp thể thao màu đen – đỏ, hiệu Giant Rock có giá trị: 3.500.000 đồng.

Vụ thứ hai:

Tiếp đến, khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 01/01/2024, T đi bộ trên đoạn đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi đến khu vực cổng sau nhà thi Đấu đa năng ở số F đường N, phường N, thành phố V thì thấy 01 xe mô tô hiệu SH Mode, biển số 59P1-17037 của chị Hán Thị L1 (sinh năm 1976; nơi cư trú: 46A đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) để tại đây. T quan sát thấy ổ khóa của xe còn cắm chìa khóa, không người trông coi nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp. T đến lấy xe mô tô biển số 59P1-170.37 rồi khởi động máy xe chạy đi. Sau khi chiếm đoạt tài sản, T điều khiển xe mô tô đến cửa hàng cầm đồ ở số B đường X, phường T, thành phố V do anh Hoàng Văn D (sinh năm 1964; nơi cư trú: 09 đường T, phường D, thành Phố V) làm chủ và Trần Văn C1 (sinh năm 1974; nơi cư trú: KP3, phường Đ, quận D, thành phố H; Chỗ ở: D đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là nhân viên cửa hàng. T cầm chiếc xe mô tô biển số 59P1-170.37 với giá 5.000.000 đồng.

Đến ngày 02/01/2024, Nguyễn Công T bị lực lượng tuần tra Công an phường H3, thành phố V phát hiện đưa về trụ sở làm việc. T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên, cơ quan Công an tiến hành thu giữ xe đạp, xe mô tô mà T đã trộm cắp.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: (14/KL-HĐĐG-TTHS ngày 18 tháng 01 năm 2024), kết luận: xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 59P1-170.37, số khung: 5106DY100738, số máy: JF51E0100799 đen có giá trị là 25.500.000 đồng.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T2, Nguyễn Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên (các bút lục điều tra từ số 108 đến số A).

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án:

- Về thu giữ vật chứng:

  • 01 chiếc xe đạp hiệu Galaxy Giant TX730 màu đỏ đen.
  • 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số 59P1-170.37, số khung: 5106DY100738, số máy: JF51E0100799.

- Xử lý vật chứng:

Cơ quan cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T2 đã xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe đạp hiệu Galaxy Giant TX730 màu đỏ đen cho anh Vũ Đức P ( anh Võ Minh C ủy thác).

Đối với xe mô tô SH Mode gắn biển số 59P1-170.37. Tại Bản Kết luận giám định số 89/KL-KTHS-SKSM ngày 11 tháng 03 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T2: xác định số khung số máy của xe mô tô hiệu Honda SH Mode bị trộm cắp là nguyên thủy.

Qua xác minh, cơ quan điều tra xác định chủ sở hữu xe mô tô hiệu Honda SH Mode bị T trộm cắp là của bà Mã Thị S, sinh năm 1979, nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Được Công an cấp biển số 60C2-287.07, số khung: 5106DY100738, số máy: 51E0100799 bị mất trộm tại địa bàn huyện C, TP Hồ Chí Minh.

Riêng biển số xe mô tô 59P1-170.37 được đăng ký đối với xe mô tô khác hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, số khung: RLHJC432XBY194265, số máy: JC43E6119202 do bà Phạm Thị T1, trú tại: 1 đường B, Phường B, Q.T, TP đứng tên chủ sở hữu, hiện vẫn đang sử dụng chiếc xe và biển số như trên.

Theo bà Hán Thị L1: Vào tháng 8/2022, thông qua bạn bè giới thiệu, bà L1 mua chiếc xe mô tô hiệu SH Mode, biển số: 59P1-17037 bằng hình thức giấy tờ viết tay với giá 32.000.000 đồng. Sau khi kiểm tra giấy tờ, bà L1 thấy thông tin trên (Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy phù hợp với xe) nên đồng ý mua. Sau khi bị mất trộm chiếc xe, bà L1 cung cấp cho cơ quan điều tra 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 038157 do Công an quận T, TP Hồ Chí Minh cấp cho Lê Ngọc H1, địa chỉ 8 T, Phường A, quận T, TP Hồ Chí Minh, có chữ ký của Trung tá Hồ Minh H2 – Phó Trưởng Công an quận và con dấu tròn màu đỏ.

Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T2 tiếp tục tạm giữ giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038157 và biển số 59P1-170.37 để tiến hành giám định sẽ xử lý sau. Riêng vật chứng là xe mô tô hiệu Honda SH Mode mang biển số: 59P1-170.37, số khung: 5106DY100738, số máy: JF51E0100799, do là tang vật phạm tội trong một vụ án khác tại địa bàn TP Hồ Chí Minh, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T2 chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: anh Võ Văn C2 và chị Hán Thị L1 không có yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Công T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh;bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Trong ngày 01/01/2024, trên địa bàn thành phố V, Nguyễn Công T thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản cụ thể, như sau:

  • Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/01/2024, tại trước cửa hàng G “internet Hasaghỉ” ở số D đường T, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Nguyễn Công T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 chiếc xe đạp hiệu Galaxy Giant TX730 màu đỏ đen, có giá trị 3.500.000 đồng của anh Võ Minh C.
  • Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/01/2024, tại trước cổng nhà cổng sau nhà thi Đấu đa năng ở số F đường N, phường N, thành phố V Nguyễn Công T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chiếc xe mô tô hiệu Honda SH Mode, gắn biển số 59P1-170.37, số khung: 5106DY100738, số máy: JF51E0100799 có giá trị 25.500.000 đồng của chị Hán Thị L1.

Tổng tài sản mà Nguyễn Công T chiếm đoạt của các bị hại là 29.000.000 đồng.

Vì vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương, gây tâm lý bức xúc cho nhân dân trong cộng đồng dân cư. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T2 đã xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe đạp hiệu Galaxy Giant TX730 màu đỏ đen cho anh Vũ Đức P ( anh Võ Minh C ủy thác) và tiếp tục tạm giữ giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038157 và biển số 59P1-170.37 để tiến hành giám định sẽ xử lý sau. Riêng vật chứng là xe mô tô hiệu Honda SH Mode mang biển số: 59P1-170.37, số khung: 5106DY100738, số máy: JF51E0100799, do là tang vật phạm tội trong một vụ án khác tại địa bàn TP Hồ Chí Minh, nên cơ quan cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T2 chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Việc xử lý vật chứng nêu trên là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

[8] Đối với hành vi của ông Trần Văn C1, Hoàng Văn D và bà Phạm Thị U cầm, mua tài sản của T, do không biết tài sản do phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý ông C1, ông D và bà U về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Công T: 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2024.
  3. Trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
  4. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06, PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 124/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Thành
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger