TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 124/2024/HS-ST Ngày 06 - 9 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU-TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Trung Chiến.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Nga
- Bà Nguyễn Ngọc Cúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tất Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HS ngày 20/8/2024; của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đối với các bị cáo:
Họ và tên: Trương Duy K, Sinh ngày 29/12/1987; Tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện V; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Họ tên cha: Trương Tiến Q, sinh năm 1960; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1962; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1985 và chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 21/5/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Họ và tên: Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 05/01/1991; Tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T1 (đã chết); Họ tên mẹ: Trần Thị N, sinh năm 1948; Gia đình bị cáo có 12 anh chị em, bị cáo là con thứ mười hai trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Họ và tên: Lê Văn C1, sinh ngày 11/12/1983; tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Họ tên cha: Lê Văn Đ, sinh năm 1944; Họ tên mẹ: Nguyễn Văn R, sinh năm 1943; Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ tám trong gia đình; có vợ là Trần Thị Thùy T2, sinh năm 1981 và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/01/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tại thời điểm phạm tội theo bản án này, Lê Văn C1 dưới 18 tuổi nên được xóa án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự; Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Họ và tên: Đặng Nhụy K1, sinh ngày 01/01/1985; Tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Họ tên cha: Đặng Văn Đ1, sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Phan Thị G, sinh năm 1964; Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là thứ hai trong gia đình; có vợ là Ngô Thị Kim P, sinh năm 1991 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 21/5/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Họ và tên: Nguyễn Thành N1, sinh ngày 20/12/1992; tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn A, sinh năm 1966; Họ tên mẹ: Lê Thị Kim Đ2, sinh năm 1967; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Trần Thị Minh T3, sinh năm 1995 và có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án; tiền sự: Không; Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Họ và tên: Nguyễn Văn T4, sinh ngày 21/01/1985; tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố E, thị trấn V, huyện V; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn H, sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1989 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Các bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Duy K mở quán bida tại nhà thuộc ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 16/5/2024, Lê Văn C1, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Tuấn T, Nguyễn Văn T4 và Đặng Nhụy K1 cùng ngụ tại xã T, huyện V đến quán của K đánh bida. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T rủ K, C1, N1, T4, K1 đánh bạc hình thức lắc bầu cua với cách thức như sau: Người làm cái sử dụng 03 hột bầu cua là khối hình lập phương bằng hột xí ngầu, trên mỗi mặt có in hình trái bầu, con cua, tôm, cá, gà, nai được đặt trong 01 hộp nhựa hình trụ có đĩa nhựa đậy kín lắc lên cho 3 hột đảo lộn. Khi người làm cái lắc xong thì những người đánh bạc đặt tiền cược một hay nhiều hình đã chọn trên tờ giấy được trải sẵn có in hình trái bầu, con cua, tôm, cá, gà, nai (gọi là bàn bầu cua). Sau khi đặt tiền xong, người làm cái mở hộp ra để tính thắng thua. Người chơi đặt cược vào các hình con, vật tương ứng với hình con, vật ở mặt trên của 03 hột bầu cua thì thắng bạc, người làm cái chung tiền cho người thắng bạc tương ứng với số tiền đã đặt. Ngược lại người chơi đặt cược vào hình con, vật không trùng với mặt trên của hột xúc xắc thì thua số tiền đã đặt cho người làm cái. Nhóm T quy định mức đặt cược mỗi ván bạc từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, sòng bạc không có người tổ chức và không thu tiền xâu.
Sau đó K dẫn T, T4, N1, K1 xuống phòng bếp phía sau quán bida và sử dụng bộ dụng cụ đánh bạc gồm 01 bàn bầu cua bằng giấy, 01 bằng kim loại, 01 khối hình trụ rỗng một đầu, 03 hột xí ngầu do C1 cung cấp và cùng nhau đánh bạc. T sử dụng 500.000 đồng đứng ra làm cái, nhưng nhờ C1 lắc cái bầu cua (C1 không đem theo tiền) và thắng bạc 1.500.000 đồng. Trương Duy K sử dụng 3.600.000 đồng đánh bạc, thua bạc 600.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng. Đặng Nhụy K1 đem theo 21.230.000 đồng, sử dụng 2.730.000 đồng đánh bạc, thua bạc 1.350.000 đồng. Nguyễn Thành N1 sử dụng 700.000 đồng đánh bạc, thua bạc 300.000 đồng. Nguyễn Văn T4 sử dụng 400.000 đồng đánh bạc, thắng 750.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc C1 đang lắc cái cùng đánh bạc với K, T4, N1, K1 thì lực lượng Công an huyện V kiểm tra phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Trương Duy K. Đối với Lê Văn C1 cùng Nguyễn Tuấn T, Nguyễn Thành N1, Đặng Nhụy K1 vàNguyễn Văn T4 cầm theo tiềnbỏ chạy thoátkhỏi hiện trường. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, Đặng Nhụy K1 đến Công an xã T đầu thú khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp số tiền 19.880.000 đồng, trong đó có 1.380.000 đồng là tiền đánh bạc, 18.500.000 đồng không sử dụng đánh bạc.
Ngày 21/5/2024, 22/5/2024, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Tuấn T, Nguyễn Văn T4, Lê Văn C1 đến Công an huyện V đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc.
+ Tang vật, tài sản, phương tiện tạm giữ:
- Tại chiếu bạc: 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm 03 hình lập phương có các mặt in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 khối hình trụ rỗng một đầu; 01 đĩa bằng kim loại; 01 tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 điện thoại di động Oppo A67 của Đặng Nhụy K1 (không sử dụng đánh bạc).
- Trên người Trương Duy K: 3.000.000 đồng;
- Xung quanh hiện trường: xe mô tô 60H3-9979; xe mô tô 60B8-279.72 của Nguyễn Thành N1; xe ô tô hiệu Honda HRV biển số 60A-846.56.
+ Kết quả xác minh nguồn gốc phương tiện tạm giữ:
- Xe mô tô gắn biển số 60B8-279.72 có số máy F124148051, số khung RU120 U0XA48051. Kết quả tra cứu biển số 6088-279.72 được cấp cho xe mô tô Wave có số khung RLHHC09033Y559626, số máy HC09E0559449, không trùng khớp với nhãn hiệu và số khung, số máy xe mô tô tạm giữ của Nguyễn Thành N1. Quá trình điều tra N1 khai nhận mua xe mô tô trên vào năm 2020 và không có chứng nhận đăng ký. Ngày 16/5/2024, N1 điều khiển xe mô tô trên đến nhà K, không sử dụng xe mô tô vào việc đánh bạc.
- Xe mô tô biển số 60H3-9979 do Tạ Thị Đ3, trú tại số B, C, phường H, thành phố B đứng tên chứng nhận đăng ký. Năm 2018 là Cao Trung C2, ngụ tại ấp V, xã T, huyện V mua lại xe trên nhưng không làm thủ tục sang tên. Năm 2021 Chánh bán xe mô tô cho Nguyễn Tuấn T. Ngày 16/5/2024, T điều khiển xe mô tô trên đến nhà K, không sử dụng xe mô tô vào việc đánh bạc.
- Xe ô tô biển số 60A-846.56 do Đặng Nhụy K1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Ngày 16/5/2024, K1 điều khiển xe ô tô đến nhà K, không sử dụng xe ô tô vào việc đánh bạc.
+ Ngày 05/8/2024, Nguyễn Văn T4 nộp trước xét xử 1.150.000 đồng, Nguyễn Thành N1 400.000 đồng, Nguyễn Tuấn T 2.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.
+ Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã giao trả: xe ô tô biển số 60A-846.56 và 01 điện thoại di động Oppo A67 cho Đặng Nhụy K1; xe mô tô biển số 60H3-9979 cho Nguyễn Tuấn T.
- Đối với xe mô tô biển số 60B8-289.72 thu giữ của Nguyễn Thành N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện V tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã ban hành Cáo trạng số: 123/CT-VKSVC chuyển Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để truy tố ra trước tòa án đối với Lê Duy K2, Nguyễn Tuấn T, Lê Văn C1, Đặng Nhụy K1, Nguyễn Thành N1 và Nguyễn Văn T4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm: 03 hình lập phương có các mặt in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 khối hình trụ rỗng một đầu; 01 đĩa bằng kim loại; 01 tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.930.000 đồng (trong đó có 3.550.000 đồng nộp trước xét xử; 4.380.000 đồng của Trương Duy K và Đặng Nhụy K1). Giao trả 18.500.000 đồng cho Đặng Nhụy K1.
- Xử phạt bị cáo Trương Duy K từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn C1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Đặng Nhụy K1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Nhân t 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2]. Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai ban đầu, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:
Khoảng 13 giờ 10 phút đến 14 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, tại nhà Trương Duy K thuộc ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tuấn T sử dụng 500.000 đồng làm cái và nhờ Lê Văn C1 lắc cái đánh bạc hình thức bầu cua với Trương Duy K, Đặng Nhụy K1, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Văn T4, số tiền đánh bạc là 7.930.000 đồng.
Nguyễn Tuấn T có vai trò rủ rê và trực tiếp làm cái đánh bạc.
Trương Duy K cung cấp địa điểm và sử dụng 3.600.000 đồng cùng Đặng Nhụy K1 sử dụng 2.730.000 đồng, Nguyễn Thành N1 sử dụng 700.000 đồng, Nguyễn Văn T4 sử dụng 400.000 đồng đánh bạc với T. Lê Văn C1 giúp Nguyễn Tuấn T lắc cái đánh bạc với vai trò giúp sức.
3]. Do vậy hành vi của các bị Cáo Trương Duy K, Đặng Nhụy K1, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Tuấn T và Lê Văn C1. đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
4]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần có mức án nghiêm để răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn, các bị cáo tự nguyện ra đầu thú, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, hơn nữa các bị cáo còn bị tạm giữ 5 ngày (như bị cáo K, bị cáo K1). Vì vậy áp dụng hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với Nguyễn Tuấn T là người rủ rê và làm cái đánh bạc mặc dù số tiền bỏ ra chỉ 500.000 đồng và Trương Duy K là người cung cấp địa điểm để đánh bạc, nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác còn lại.
Các bị cáo còn lại. Xét về vai trò phạm tội là như nhau, vì vậy chịu mức hình phạt ngang nhau là phù hợp với quy định của pháp luật.
5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
5.1]. Đối với xe ô tô biển số 60A-846.56 và 01 điện thoại di động Oppo A67 của bị cáo Đặng Nhụy K1 không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện V đã trả lại bị cáo, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục đặt ra xem xét.
5.2]. Đối với xe mô tô biển 60H3-9979 của bị cáo Nguyễn Tuấn T không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện V đã trả lại bị cáo, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục đặt ra xem xét.
5.3]. Đối với xe mô tô biển số 60B8-289.72 thu giữ của Nguyễn Thành N1 không liên quan đến việc phạm tội, nhưng do xe không có giấy tờ. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện V tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.
5.4]. Đối với 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm: 03 hình lập phương có các mặt in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 khối hình trụ rỗng một đầu; 01 đĩa bằng kim loại; 01 tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai. Là công cụ các bị cáo đánh bạc và không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
5.5]. Đối với số tiền 7.930.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước (trong đó có 3.550.000 đồng nộp trước xét xử gồm 1.150.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004285 ngày 05/8/2024 của Nguyễn Văn T4 nộp; 400.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004284 ngày 05/8/2024 của Nguyễn Thành N1 nộp và 2.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004285 ngày 05/8/2024 của Nguyễn Tuấn T nộp; 4.380.000 đồng của Trương Duy K và Đặng Nhụy K1 tại biên lai thu tiền số 0004331 ngày 14/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.).
5.6]. Đối với số tiền 18.500.000 đồng của bị cáo Đặng Nhụy K1 không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo tại biên lai thu tiền số 0004331 ngày 14/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.
6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
7]. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Trương Duy K, Nguyễn Tuấn T, Lê Văn C1, Đặng Nhụy K1, Nguyễn Thành N1 và Nguyễn Văn T4 phạm tội “Đánh bạc”.
1]. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo C1 không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51. Điều 262; Điều 331; Điều 333; Điều 336; Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Trương Duy K 30.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T 30.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Lê Văn C1 25.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Đặng Nhụy K1 25.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N1 25.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 25.000.000 đồng.
2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm: 03 hình lập phương có các mặt in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 khối hình trụ rỗng một đầu; 01 đĩa bằng kim loại; 01 tờ giấy in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai. Tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.930.000. (trong đó có 3.550.000 đồng nộp trước xét xử (gồm 1.150.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004285 ngày 05/8/2024 của Nguyễn Văn T4 nộp; 400.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004284 ngày 05/8/2024 của Nguyễn Thành N1 nộp và 2.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004285 ngày 05/8/2024 của Nguyễn Tuấn T nộp 4.380.000 đồng của Trương Duy K và Đặng Nhụy K1 tại biên lai thu tiền số 0004331 ngày 14/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).
- Trả lại bị cáo Đặng Nhụy K1 số tiền 18.500.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004331 ngày 14/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Trung Chiến |
Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc
- Số bản án: 124/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trương Duy K 30.000.000 đồng. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T 30.000.000 đồng. - Xử phạt bị cáo Lê Văn C 25.000.000 đồng. - Xử phạt bị cáo Đặng Nhụy K 25.000.000 đồng. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 25.000.000 đồng. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 25.000.000 đồng.
