Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

Án số: 124/2024/HS-ST

Ngày 06 - 8 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thiện Lợi và bà Hoàng Thị Phụng.

  • Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/QĐXX-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Huy H, sinh ngày 24/10/1999; nơi sinh: Tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Số C, ngõ D, đường L, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T (đã chết) và bà Trần Thị L; vợ là chị Phạm Thị H1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  • Bị hại: Anh Trương Đình Đ, sinh năm 1996, (có mặt);

    Nơi cư trú: Số nhà A đường T, tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

  • Người làm chứng:

    • Bà Đậu Thị T1, sinh năm 1968, (vắng mặt);

      Nơi cư trú: Số A, đường T, tổ G, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    • Anh Phạm Hồng P, sinh năm 1979, (vắng mặt);

      Nơi cư trú: Số nhà A, đường N, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    • Anh Đào Ngọc H2, sinh năm 1999, (vắng mặt);

      Nơi cư trú: Số nhà C, đường T, tổ C, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    • Anh Trần Anh T2, sinh năm 1995, (vắng mặt);

      Nơi cư trú: Số nhà B, ngõ C đường B, tổ B, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    • Anh Nguyễn Tiến Đ1, sinh năm 1991, (vắng mặt);

      Nơi cư trú: Tổ B, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    • Anh Trần Tuấn A, sinh năm 2003, (vắng mặt);

      Nơi cư trú: Số nhà D, ngõ D, đường T, tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    • Anh Phạm Quang H3, sinh năm 1989, (vắng mặt);

      Nơi cư trú: Số nhà E, ngõ C, đường L, tổ B, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    • Anh Trần Quang T3, sinh năm 1997, (vắng mặt);

      Nơi cư trú: Số A, ngõ C, đường B, tổ B, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 13/02/2024, anh Trương Đình Đ cùng bạn là anh Trần Quang T3, anh Nguyễn Tiến Đ1, anh Trần Anh T2, anh Phạm Quang H3, anh Đào Ngọc Huy, ăn đêm tại quán ăn khu vực vỉa hè trước cửa số nhà A, đường N, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/02/2024, bị cáo Nguyễn Huy H và anh Trần Tuấn A, đến số nhà A, đường N, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình để ăn đêm. Đến nơi, bị cáo H và anh Tuấn A ngồi cùng dãy bàn với anh Trương Đình Đ đang ngồi. Lúc này anh Nguyễn Tùng D, sinh năm 1999, trú tại tổ B, phường Q, thành phố T, sang ngồi nói chuyện với bị cáo H, do trước đó bạn của anh D xảy ra mâu thuẫn với bị cáo H. Do anh Đ đang ngồi ở vị trí đầu bàn, lưng giáp vào cửa số nhà A, đường N nên nghe thấy bị cáo H và anh D nói chuyện thì anh Đ nhìn về phía H và nói “lớn rồi còn đánh nhau, ngu thì chết cụ mày đi”. Bị cáo H nhìn thấy anh Đ nhìn về phía mình và nghe thấy anh Đ nói như vậy thì bực tức chửi lại anh Đ “chết con mẹ mày đi”, anh Đ liền chỉ tay về phía bị cáo H, bị cáo H liền đứng lên và nói với anh Đ “mày chỉ tay về bố mày đấy à”, lúc này anh T3 đứng lên căn ngăn bị cáo H, anh Đ đứng lên đi đến chỗ bị cáo H và nói giọng thách thức “sao đấy”, bị cáo đáp “mày soi tao à”, anh Đ trả lời “không, tao không soi ai cả, lớn rồi đầu xuân anh em ngồi vui vẻ với nhau, tao không soi ai cả”, bị cáo Hoàng c “Đ. mẹ mày, mày soi tao từ đầu đến giờ”, anh Đ liền nói “tao soi mày cái gì”. Mọi người xung quanh thấy giữa bị cáo H và anh Đ cãi nhau căng thẳng nên đẩy bị cáo H đi ra phía ngoài của đường N để tách hai bên ra nhưng anh Đ tiếp tục tiến lại phía bị cáo Hoàng c và thách thức “tao đéo nói chuyện nữa, mày giỏi thì vào mà đánh”, nói rồi anh Đ quay lại đi lên vỉa hè cởi áo khoác bên ngoài ra, bị cáo H thấy anh Đ cởi áo khoác thì nghĩ anh Đ định lấy đồ để đánh bị cáo nên bị cáo chạy từ phía sau đến vị trí anh Đ rồi dùng tay phải đấm mạnh một phát theo hướng từ phía sau về phía trước trúng vào vùng mặt bên phải của anh Đ. Anh Đ bị ngã ra vỉa hè trước cửa số nhà A, đường N, bị cáo H tiếp tục dùng chân trái đá từ trái qua phải hai phát về phía người anh Đ, anh Đ cúi người xuống nên bị bị cáo H đá trúng vào vùng mặt bên phải. Sau khi thấy anh Đ bị thương, bị cáo H dừng lại không đánh nữa, anh Đ được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu sau đó được đưa đến Bệnh viện Đ2 điều trị từ ngày 14/02/2024 đến ngày 21/02/2024.

Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 96/KLTTCT-TTPY ngày 26/3/2024 của Trung Tâm P1 - Sở Y đối với thương tích của anh Trương Đình Đ, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Trương Đình Đ tại thời điểm giám định là: 33% (Ba mươi ba phần trăm), do tầy gây nên: Gãy cung tiếp gò má phải, gãy xương hàm bên phải, vỡ thành ngoài ổ mắt phải, vỡ thành trước, thành ngoài, thành trong xoang hàm phải, mẻ xương hàm dưới vị trí răng 4.6, 4.7. do tầy gây nên.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Huy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng khai phù hợp với lời khai của bị cáo.

Cáo trạng số 129/CT - VKSTPTB ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Huy H về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  • Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm thời hạn tính từ ngày tuyên án.

  • Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo Nguyễn Huy H đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 100.000.000 đồng gồm: Tiền điều trị tại Bệnh viện, tiền thuốc theo hóa đơn, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền ngày công không lao động được của bị hại và tiền ngày công nghỉ việc của người chăm sóc bị hại.

  • Về vật chứng: Không.

Bị cáo Nguyễn Huy H xác định cáo trạng truy tố bị cáo về “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Đơn trình báo của bà Đậu Thị T1 (mẹ đẻ bị hại); Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Giấy chứng nhận thương tích ban đầu đối với bị hại; Bệnh án của Bệnh viện Đ2 đối với bị hại; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người đối với bị hại; Kết luận giám định (tập tin video); lời khai của bị hại; lời khai của những người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00 giờ 30, ngày 14/02/2024, tại vỉa hè trước cửa số nhà A, đường N, tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình, do bực tức về việc anh Trương Đình Đ sinh năm 1996, nơi cư trú: Số nhà A đường T, tổ G, phường T, thành phố T chửi, thách thức bị cáo Nguyễn Huy H đánh nhau nên bị cáo Nguyễn Huy H đã dùng tay, chân đánh gây thương tích cho anh Trương Đình Đ. Hậu quả anh Đ bị gãy cung tiếp gò má phải, gãy xương hàm bên phải, vỡ thành ngoài ổ mắt phải, vỡ thành trước, thành ngoài, thành trong xoang hàm phải, mẻ xương hàm dưới vị trí răng 4.6, 4.7. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Trương Đình Đ là 33% (ba mươi ba phần trăm).

[3] Bị cáo Nguyễn Huy H có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, bị cáo biết rõ gây thương tích cho người khác bằng bất kỳ hình thức nào đều vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do bị hại chửi và có lời nói thách thức bị cáo đánh nhau làm cho bị cáo bực tức nên bị cáo đã dùng tay, chân đánh gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 33%. Xét hành vi của bị cáo phù hợp với tình tiết định khung của tội phạm quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Điều 134 – Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: “1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) ... 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; ...”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, theo đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh đã phạm. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội bị cáo gây ra.

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi đó đã gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Xét nguyên nhân và điều kiện thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là do bị hại chửi và thách thức bị cáo đánh nhau dẫn đến bị cáo không tuân thủ pháp luật, vì vậy cần xét xử nghiêm minh trước pháp luật để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo đã chủ động thăm hỏi bị hại, tác động đến gia đình để kịp thời bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo đó, khi quyết định hình phạt bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Xét, bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân, việc không buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Huy H đã cùng bị hại thỏa thuận về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại, ngày 23/5/2024, bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng gồm: Tiền điều trị tại Bệnh viện, tiền thuốc theo hóa đơn, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền ngày công không lao động được của bị hại và tiền ngày công nghỉ việc của người chăm sóc cho bị hại. Bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền nào khác về dân sự cho bị hại. Xét việc thỏa thuận này phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng: Không có.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

    1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  2. 2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Huy H cho UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hành phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.

  3. 3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận bị cáo Nguyễn Huy H đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo thỏa thuận cho anh Trương Đình Đ, sinh năm 1978, nơi cư trú: Số nhà A đường T, tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổng số tiền 100.000.000 đồng gồm: Tiền điều trị tại Bệnh viện, tiền thuốc theo hóa đơn, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền ngày công không lao động được của bị hại và tiền ngày công nghỉ việc của người chăm sóc cho bị hại. Ngày 23/5/2024, anh Đ đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác về dân sự.

  4. 4. Về vật chứng: Không có.

  5. 5. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. 6. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo và bị hại, báo cho biết có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/8/2024.

  7. 7. Quyền thi hành: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Người tham gia tố tụng;
  • UBND phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • Chi cục THADS TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • VKS tỉnh Thái Bình;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy H phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger