|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/HS-PT
Ngày: 05-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 92/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Võ Văn H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.
- Bị cáo có kháng cáo: Võ Văn H (Tên gọi khác: Út H1), sinh năm 1970, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số A, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn G, sinh năm: 1926 (chết) và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1927 (chết); có vợ (đã ly hôn) và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại, (có mặt).
Trong vụ án còn có bị cáo Thái Văn Ú, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát cũng không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn H và Thái Văn Ú là bạn với nhau. Khoảng đầu tháng 5/2022, H sử dụng điện thoại di động truy cập trên mạng xã hội phát hiện 01 tài khoản Zalo tên “Minh N”, đăng thông tin làm giấy phép lái xe mô tô, ô tô các hạng như: A1, B2, C và D, giống như giấy thật 100%, kèm theo hồ sơ sát hạch (hồ sơ gốc). Thấy vậy, H đăng nhập vào để tìm hiểu thông tin thì được 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) cho biết, nếu đặt làm các loại giấy phép lái xe như trên thì không cần phải tham gia thi sát hạch và bao soi, bao rọi nếu bị lực lượng chức năng kiểm tra hành chính, H biết đây là các loại giấy phép lái xe giả. Người này quy định giá đặt làm từng loại giấy phép lái xe, kèm theo hồ sơ sát hạch như: Hạng A1 là 1.700.000 đồng, hạng B2 là 6.000.000 đồng và hạng C là 8.000.000 đồng, còn hạng D là 4.000.000 đồng nhưng không có hồ sơ sát hạch.
Đến khoảng tháng 6/2022, H gặp Ú tại quán N1 thuộc ấp T, xã P, huyện L. Tại đây, H thỏa thuận với Ú, nếu có người đặt mua giấy phép lái xe giả thì thông báo cho H biết, để kêu họ chụp giấy chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân gửi vào tài khoản Zalo của H. Sau đó, H gửi vào tài khoản Zalo tên “Minh N” đặt làm, làm xong H sẽ đưa giấy phép lái xe giả cho Ú để giao cho người mua. Giá từng loại giấy phép lái xe giả lần lượt: Hạng A1 là 2.000.000 đồng, hạng B2 là 8.000.000 đồng và hạng C là 14.000.000 đồng hoặc 15.000.000 đồng. Số tiền chênh lệch có được, cả 02 chia nhau tiêu xài, Ú đồng ý. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 11/2022, H và Ú đã thực hiện hành vi làm giả giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cụ thể như sau:
Ngày 28/9/2022, trong lúc làm thuê cho anh Phạm Thanh Q, Thái Văn Ú nói với anh Q có nhận làm giấy phép lái xe các loại, không cần phải tham gia thi sát hạch, bao soi, bao rọi khi bị lực lượng chức năng kiểm tra, nếu ai có nhu cầu đặt mua thì giới thiệu cho Ú. Nghe Ú nói, anh Q biết các giấy phép lái xe mà Ú nhận làm là giả. Để có chứng cứ tố giác hành vi phạm tội của Ú, anh Q chủ động đặt mua 01 giấy phép lái xe hạng C với giá 15.000.000 đồng và trả trước cho Ú 10.000.000 đồng. Sau đó, Ú liên hệ với H đặt làm theo yêu cầu của anh Q, Ú đưa cho H 8.000.000 đồng, còn giữ lại 2.000.000 đồng. Sau khi nhận được giấy phép lái xe giả, H đưa cho người đàn ông có tài khoản Zalo tên “Minh N" 8.000.000 đồng thông qua người giao hàng (không rõ họ tên, địa chỉ). Ngày 03/11/2022, H đưa giấy phép lái xe giả cho Ú để đưa cho anh Q, nhận được giấy phép lái xe giả hạng C, anh Q cất giữ không sử dụng. Đến ngày 15/11/2022, sau khi nhận được hồ sơ sát hạch, H trực tiếp ghi các thông tin cá nhân của anh Q vào các bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe ô tô rồi nhờ Ú đến đưa cho anh Q để lấy 5.000.000 đồng còn lại. Anh Q nói giấy phép lái xe mà Ú làm cho Q là giấy giả nên không đồng ý trả tiền và sẽ trình báo Công an. Đến ngày 16/11/2022, anh Q đem theo giấy phép lái xe giả và hồ sơ sát hạch đến Công an xã P, huyện L giao nộp và tố giác hành vi làm giả giấy tờ của Thái Văn Ú.
Cũng trong khoảng thời gian trên, Võ Văn H biết Võ Văn T cần giấy phép lái xe nên H đến nhà và gặp T, thỏa thuận làm cho T 01 giấy phép lái xe hạng D, bao soi, bao rọi, không cần tham gia thi sát hạch nhưng không có hồ sơ gốc để khấu trừ tiền nợ 4.500.000 đồng, T đồng ý. Đến đầu tháng 11/2022, sau khi nhận giấy phép lái xe giả, H đưa cho người đàn ông có tài khoản Zalo tên “Minh N” 4.000.000 đồng thông qua người giao hàng, H hưởng lợi 500.000 đồng. Sau đó, H giao cho T đem về nhà cất giữ không có sử dụng. Khoảng 05 ngày sau, T yêu cầu H làm lại cho T giấy phép lái xe hạng C, H đồng ý và nhận lại giấy phép lái xe giả hạng D đem về nhà trọ cất giấu. Đến ngày 16/11/2022 thì bị Công an thu hồi để xử lý theo quy định.
2
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu có liên quan gồm:
- Tạm giữ của Phạm Thanh Q:
- + 01 giấy phép lái xe hạng C, số H, họ tên Phạm Thanh Q, sinh ngày 01/01/1991.
- + 01 hồ sơ sát hạch gồm: Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe ô tô, ngày 19/9/2022, họ tên thí sinh Phạm Thanh Q, sinh ngày 01/01/1991, nơi cư trú T, P, L, Đồng Tháp, ký hiệu A1; biên bản sát hạch thực hành lái xe trong hình, hạng xe sát hạch C, ngày thi 19/9/2022, họ tên thí sinh Phạm Thanh Q, sinh ngày 01/01/1991, ký hiệu A2; biên bản sát hạch thực hành lái xe trên đường, hạng xe sát hạch C, ngày thi 19/9/2022, họ tên thí sinh Phạm Thanh Q, sinh ngày 01/01/1991, ký hiệu A3; giấy khám sức khỏe của người lái xe, ghi ngày 19/9/2022, họ tên Phạm Thanh Q, số CMND: [...], chỗ ở hiện nay: P, L, Đồng Tháp, ký hiệu A4; đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe, không có ghi ngày tháng năm và 01 chứng chỉ sơ cấp nghề cho Phạm Thanh Q ngày 19/9/2022.
- Tạm giữ của Võ Văn H:
- + 01 giấy phép lái xe hạng D, số H, họ và tên Võ Văn T, sinh ngày 11/12/1989, nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
- + 01 hồ sơ sát hạch giấy phép lái xe mô tô, họ tên Nguyễn Văn T1 gồm: Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, ngày 22/12/2021, họ tên thí sinh Nguyễn Văn T1, sinh ngày 01/01/1964, nơi cư trú T, Ô, TP ., ký hiệu A5; biên bản sát hạch thực hành lái xe trong hình, hạng xe sát hạch A1, ngày thi 22/12/2021, họ tên thí sinh Nguyễn Văn T1, ký hiệu A6; đơn đề nghị học, sát hạch đề nghị cấp giấy phép lái xe.
- + 03 hồ sơ không ghi họ tên; 01 chứng chỉ sơ cấp nghề cho Nguyễn Văn T2, cấp ngày 13/12/2021 và 01 chứng chỉ sơ cấp nghề cho Nguyễn Minh T3, cấp ngày 10/02/2022.
- + 01 xe mô tô biển số 66V1-753.08, màu trắng đỏ đen, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, số máy G3D4E761706, số khung RLCUG0610JY732575 (đã qua sử dụng).
- + 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 66006078, biển số 66V1-753.08, tên chủ xe Võ Văn H:
- + 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...], họ và tên Võ Văn H, sinh ngày 01/01/1970, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 12/3/2020.
- + 01 điện thoại di động màu trắng, loại cảm ứng, phía mặt sau có hình trái táo khuyết và chữ Iphone.
- + 01 căn cước công dân số [...], họ tên Võ Văn H.
- Tạm giữ của Thái Văn Ú:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu đỏ đen, biển số 66L1-064.57.
- + 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...], họ và tên Thái Văn Ú, sinh ngày 01/01/1973, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 08/5/2015.
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, vỏ màu xanh, số Imei 1: 353552685085188, số Imei 2: 35514755508518.
4
Tại Kết luận giám định số 1110/KL-KTHS ngày 28/11/2022, của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy phép lái xe hạng C, số H, họ tên Phạm Thanh Q, sinh ngày 01/01/1991 cần giám định ký hiệu A là giả.
Tại Công văn phúc đáp số 691/SGTVT-VTPT&NL ngày 12/4/2023, của Sở giao thông vận tải tỉnh Đ, về việc xác minh giấy phép lái xe hạng C, số [...], cấp ngày 26/9/2022 cho Phạm Thanh Q, sinh ngày 01/10/1991, nơi cư trú ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, xác nhận: Qua kiểm tra dữ liệu lưu trữ tại Sở giao thông vận tải tỉnh Đ và trên phần mềm quản lý cấp giấy phép lái xe của Cục Đ thì ông Phạm Thanh Q với các thông tin trên không có trong cơ sở dữ liệu quản lý của Sở G và phần mềm quản lý của Cục Đ.
Tại Kết luận giám định số 1163/KL-KTHS ngày 19/12/2022, của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:
- + Giấy phép lái xe hạng D, số H, họ tên Võ Văn T cần giám định ký hiệu A1 là giả.
- + Giấy phép lái xe hạng A1, số [...], họ và tên Võ Văn H và giấy phép lái xe hạng A1, số [...], họ tên Thái Văn Ú, cần giám định ký hiệu A2, A3 là thật.
Tại Công văn phúc đáp 625/SGTVT-QLVT ngày 11/4/2023, của Sở giao thông vận tải tỉnh V, về việc cung cấp hồ sơ, tài liệu giấy phép lái xe đối với trường hợp của Võ Văn T, xác nhận: Trong năm 2022 không có trường hợp nào đăng ký học, sát hạch cấp giấy phép lái xe ô tô hạng D tại Sở G tên Võ Văn T có thông tin như trong văn bản số 50/CV-CAH-CSĐT ngày 06/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L.
Tại Kết luận giám định số 302/KL-KTHS ngày 15/3/2023, của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:
- Chữ viết, chữ số mực màu xanh ở 06 dòng đầu trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1; chữ viết, chữ số mực màu xanh trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2; chữ viết, chữ số mực màu xanh trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3 (trừ chữ số ở dòng 5 “....Ngày 19 tháng 09 năm 2022”); chữ viết, chữ số ở 05 dòng đầu trang 1 và chữ số ở dòng 1 “...ngày 19 tháng 09 năm 2022" trang 2 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4; chữ viết, chữ số mực màu xanh ở 07 dòng đầu trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 và chữ viết, chữ số mực màu xanh trên tài liệu cần giám định ký hiệu A6 so với chữ viết, chữ số đứng tên Võ Văn H trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M3 do cùng một người viết ra.
- Chữ viết, chữ số mực màu xanh (trừ chữ viết, chữ số được kết luận tại mục V.1) trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A3, A4, A5 không phải chữ viết, chữ số của 02 người có mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 gửi giám định viết ra.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Võ Văn H và Thái Văn Ú đã trả lại cho anh Phạm Thanh Q 10.000.000 đồng, anh Q không yêu cầu gì thêm.
5
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã quyết định:
Căn cứ vào: điểm b, c khoản 2 Điều 341, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Thái Văn Ú 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05 tháng 3 năm 2024, bị cáo Võ Văn H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Võ Văn H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Võ Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận phần kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo đồng phạm, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Các bị cáo Võ Văn H và Thái Văn Ú thỏa thuận và thống nhất tìm người có nhu cầu sử dụng giấy phép lái xe giả hạng A1, B2, C và D rồi thông qua mạng xã hội tài khoản Zalo có tên “Minh N” đặt làm bán cho người có nhu cầu để hưởng lợi. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 11/2022, bị cáo H và bị cáo Ú làm 02 giấy phép lái xe giả hạng C và D bán cho anh Phạm Thanh Q và Võ Văn T.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả nên bị cáo đã có hành vi trực tiếp đặt làm 02 giấy phép lái xe giả để bán và đã hưởng lợi 500.000 đồng một cách trái pháp luật. Khi thực hiện hành vi, bị cáo thừa biết hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Văn H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn H, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[4] Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Võ Văn H là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Võ Văn H phải án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Võ Văn H. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Võ Văn H.
- Tuyên bố bị cáo Võ Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Võ Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Võ Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 124/2024/HS-PT ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (criminal case)
- Số bản án: 124/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”
