Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 124/2024/HS - ST
Ngày 05 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

———————

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn (nghề nghiệp: giáo viên).

Bà Dương Thị Hoa (nghề nghiệp: giáo viên).

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Việt Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 02/5/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 22/5/2024 đối với bị cáo:

  • Họ và tên: Đỗ K, sinh ngày ngày 15/12/2005. Giới tính: Nam.
  • Tên gọi khác: Không.
  • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn H, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
  • Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
  • Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Đoàn thể: Không.
  • Con ông: Đỗ Văn A và bà: Ngô Thị S.
  • Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai.
  • Vợ, con: Chưa có.
  • Tiền án, tiền sự: Không.
  • Bị cáo bị khởi tố, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
  • (Có mặt tại phiên tòa).
  • Bị hại: Anh Nguyễn Tú T (đã chết)
  • Người đại diện hợp pháp của bị hại:
    1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1985. (vắng mặt)
    2. Ông Nguyễn Tú T1, sinh năm 1981. (có mặt)
    Cùng địa chỉ: Thôn R, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H: Ông Nguyễn Tú T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn R, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 10/8/2023).
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
    1. Ông Bùi Thế N, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn M, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)
    2. Anh Đỗ Văn A, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  • Người tham gia tố tụng khác: Đại diện Đoàn thanh niên xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Khang, sinh ngày 15/12/2005, trú tại thôn H, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang và anh Nguyễn Tú T, sinh ngày 18/12/2005, trú tại thôn R, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang là bạn bè với nhau và đều chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định.

Khoảng 07 giờ sáng ngày 05/7/2023, Đỗ K đã tự lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98K1-279.13 của anh Đỗ Văn A, sinh năm 1982, trú tại thôn H, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang (là bố đẻ của K) và điều khiển xe mô tô đi đến Công ty G ở Cụm C để xin việc làm. Tại đây, K gặp anh Nguyễn Tú T là bạn học cùng cấp 2 cũng đến xin việc làm. Sau khi nộp hồ sơ xong, K điều khiển xe mô tô chở anh T về nhà anh T tại thôn R, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, do không có ai ở nhà nên anh T đã rủ K đi xuống huyện H uống trà sữa và bảo K giao xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 cho anh T điều khiển để chở anh K đi thì K đồng ý. KT uống trà sữa đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày thì đi về. Anh T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 chở anh K đi về theo đường Q hướng từ huyện H đi huyện V (nay là thị xã V). Khi đi đến khu vực ngã tư thôn K, xã V, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang, anh T điều khiển xe mô tô đi nhanh, không chú ý quan sát nên đã vượt bên phải xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98B1-583.75 do ông Bùi Thế N, sinh năm 1962, trú tại thôn M, xã H, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang điều khiển đi phía trước cùng chiều đang rẽ phải về xã H. Sau đó, phần cánh yếm trái, để chân trước bên trái, cần số và vỏ máy bên trái xe mô tô Thiệu điều khiển đã va chạm với giảm sóc trước bên phải, má lốp và vành bánh trước bên phải xe mô tô ông N điều khiển làm ông N bị ngã ra đường. Xe mô tô T điều khiển tiếp tục lao lên vỉa hè và va chạm với kiện gạch. Hậu quả anh T tử vong, ông NK được người dân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu. Khang điều trị đến ngày 14/7/2023 thì ra viện với thương tích vỡ lách, gãy đầu dưới xương quay tay phải, trật khớp háng trái. Ông N điều trị đến ngày 12/7/2023 với thương tích chấn động não.

Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện V (nay là thị xã V) thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện, khám nghiệm tử thi liên quan đến vụ tai nạn, trưng cầu giám định nguyên nhân chết của anh T và cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn:

Kết quả khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông thể hiện: Hiện trường đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là tại Km 82 + 450 đường Q thuộc thôn K, xã V, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa thẳng rộng 11m. Theo chiều từ huyện H đi xã V, huyện V (nay là thị xã V), bên phải đường là gần nơi xảy ra tai nạn giao thông có cắm biển báo nguy hiểm W207a (Giao nhau với đường không ưu tiên) và có đường rẽ vào xã H, đầu đường rẽ rộng 8,50m. Bên trái đường có đường rẽ vào thôn K, xã V. Đầu đường rẽ rộng 10,50m và có cắm biển báo nguy hiển W207a (Giao nhau với đường không ưu tiên). Trên đường đi từ thôn K, xã V đi ra đường Q, bên phải đường có gắn biển báo nguy hiểm W245a (Đi chậm). Tại hiện trường, ở cửa nhà anh Đoàn Văn P có đặt các kiện gạch, kích thước (3,50 x 2,10 x 1,20)m cách mép đường 2,30m. Phải, trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều đi từ huyện H đi xã V. Lấy chân cột biển báo nguy hiểm W207a bên phải đường là mốc và lấy mép đường bên phải làm chuẩn.

Vết dầu (ký hiệu số 1) kích thước (2,10 x 0,30)m trên đường. T2 đầu vết dầu nằm trên mép đường bên phải. T2 cuối vết dầu nằm dưới vị trí đầu xe mô tô 98B3-583.75, tâm cách mép đường bên phải là 0,92m.

Vết cầy (ký hiệu số 2) kích thước (1,45 x 0,01)m. T2 đầu vết cày cách mép đường bên phải 0,89m. T2 cuối vết cày nằm dưới vị trí đầu để chân trước bên phải của xe mô tô 98B1-583.75, cách mép đường bên phải 1,00m. Đầu vết cầy cách tâm vết dầu (ký hiệu số 1) là 1,15m.

Xe mô tô 98B1-583.75 (ký hiệu số 3) đổ nghiêng bên phải trên đường rẽ vào xã H. Đầu xe hướng huyện H, đuôi xe hướng xã V. Trục bánh trước cách mép đường bên phải 0,92m. Trục bánh sau cách mép đường bên phải 1,01m và cách tâm đầu vết cày số (ký hiệu số 4) là 8,90m.

Vết cầy (ký hiệu số 4), kích thước (9,70 x 0,01)m nằm trên lề đường bên phải. T2 đầu vết cày cách mép đường bên phải 2,13m. T2 cuối vết cày nằm trên lề đường bên phải và cách mép đường bên phải 1,83m và cách trục sau xe mô tô 98K1- 279.13 là 0,93m. Vết cày hướng huyện H đi xã V.

Xe mô tô 98K1- 279.13 (ký hiệu số 5) đổ nghiêng bên phải trên lề đường bên phải. Đầu xe hướng xã V, đuôi xe hướng huyện H. Trục bánh trước cách mép đường bên phải 1,00m. Trục bánh sau cách mép đường bên phải 1,30m.

Bãi máu (ký hiệu số 6) kích thước (0,60 x 0,50)m. T2 bãi máu cách mép đường bên phải 1,60m và nằm trên lề đường bên phải.

Bãi mảnh nhựa vỡ (ký hiệu số 7) kích thước (2,50 x 2,20)m. T2 bãi mảnh nhựa vỡ cách mép đường bên phải là 1,90m và cách tâm bãi máu (ký hiệu số 6) là 0,55m. Bãi mảnh nhựa vỡ nằm trên lề đường bên phải.

Khoảng cách từ tâm đầu vết cày (ký hiệu số 2) đến chân cột biển báo nguy hiểm W207a bên phải đường được xác định là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông là 45,45m.

Quá trình khám nghiệm đã thu giữ xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 279.13, xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75 và mảnh nhựa vỡ.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98K1-279.13: Xe không có gương chiếu hậu hai bên. Cụm đèn pha, đèn xi nhan bị tỳ nén bật rời khỏi xe. Tay lái bên trái bị cong vênh hướng từ trước về sau, kích thước (0,50 x 0,03)m. Mặt nạ đầu xe bị tỳ nén nứt vỡ bật rời khỏi xe. Mặt ngoài chắn bùn trước đầu xe để lại vết mài sát mòn nhựa, kích thước (1,10 x 0,06)m. Mặt lăn bánh lốp trước để lại vết mài sát cao su, kích thước (0,27 x 0,03)m, tâm cách chân van 0,45m. Cánh yếm trái để lại dấu vết mài sát vỡ nhựa, kích thước (0,27 x 0,15)m. Cần để trước bên phải bị tỳ nén cong vênh hướng từ trước về sau, kích thước (0,13 x 0,02)m cách đất 0,20m. Lốc máy bên trái để lại vết mài sát bục kim loại, kích thước (0,03 x 0,02)m, tâm cách đất 0,18m. Càng xe bị tỳ nén cong vênh hướng từ trước về sau. Tay nắm bên phải để lại vết mài sát mòn cao su, kim loại kích thước (0,05 x 0,03)m, tâm cách đất 0,72m. Để chân trước bên phải để lại vết mài sát mòn cao su hở lõi sắt, kích thước (0,02 x 0,02)m. T2 cách đất 0,18m. Mặt ngoài chân phanh bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,03 x 0,01)m, tâm cách đất 0,12m. Mặt ngoài để chân cao su bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,03 x 0,01)m, tâm cách đất 0,30m. Ốp nhựa sườn xe bên phải bị tỳ nén vỡ nhựa, kích thước (0,10 x 0,02)m, tâm cách đất 0,63m. Toàn bộ khu vực đầu xe bám dính chất màu nâu đỏ. Mặt ngoài bảo vệ bô xe để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,05 x 0,04)m, tâm cách đất 0,39m.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98B1-583.75: Xe không có gương chiếu hậu bên trái. Tay lái bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,03 x 0,02)m, tâm cách đất 1,04m. Tay phanh bên phải để lại vết tỳ nén gãy khuyết. Giảm sóc trước bên phải để lại vết tỳ nén cong vênh gãy kim loại, kích thước (0,20 x 0,05), tâm cách đất 0,34m. Cánh yếm bên phải để lại vết mài sát mòn nhựa, kích thước (0,15 x 0,05)m, tâm cách đất 0,52m. Mặt ngoài vành bánh trước bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,12 x 0,01), tâm cách chân van 0,43m. Bu xe phía trước bị cong vênh từ phải sang trái. Phần nhựa vai xe trái bị tỳ nén nứt vỡ, kích thước (0,10 x 0,01), tâm cách đất 0,56m. Để chân trước bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,01 x 0,01)m, tâm cách đất 0,27m. Để chân sau phải để lại vết tỳ nén cong vênh. Mặt ngoài mái sát mòn cao su, kim loại, kích thước (0,27 x 0,04)m, tâm cách đất 0,29m. Vành bánh trước bị cong vênh.

Kết quả khám nghiệm tử thi anh Nguyễn tú T3 thể hiện: Tử thi đang trong giai đoạn mềm lạnh. Hai mắt khép kín, đồng tử hai bên giãn to. Miệng ngậm, lưỡi trong cung răng. Lỗ tai phải khô. Hai lỗ mũi, khoang miệng và lỗ tai trái có máu không đông chảy từ trong ra. Vùng trán phải, má phải có vết sây sát da, kích thước (14 x 07)cm. Vùng thái dương, chẩm phải có vết thương rách da, kích thước (08 x 03)cm, bờ mép không gọn, sâu đến tổ chức dưới da. Vùng cổ phải có diện sây sát da, kích thước (08 x 07)cm. Vùng ngực hai bên và vùng bụng có diện sây sát da, kích thước (40 x 22)cm. Vùng lưng có diện sây sát da, kích thước (51 x 14)cm. Hố chậu phải có diện sâu sát da, kích thước (07 x 06)cm. Toàn bộ cánh, cẳng, bàn tay phải có diện sây sát, mài sát da, kích thước (61 x 14)cm. Gối phải có diện mài sát da, kích thước (09 x 4,5)cm. Mặt trong 1/3 giữa cẳng chân trái có diện sây sát da, kích thước (9,5 x 05)cm. Sờ nắn thấy gãy kín 1/3 trên xương đùi trái, gãy cung trước xương sườn 2, 3 bên phải, tràn khi dưới da toàn bộ vùng ngực hai bên. Kiểm tra vết thương vùng thái dương, chẩm phải thấy: Bầm tụ máu tổ chức da và dưới da đầu vị trí tương ứng. Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm phải, qua đường có máu chảy ra ngoài. Chọc hút bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực hai bên có nhiều máu không đông lẫn dịch bọt.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1374/KLGĐTT- KTHS ngày 27/7/2023 của Phòng K1- Công an tỉnh B, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Tú T do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, gãy xương đùi trái. Các tổn thương rách da, sây sát, mài sát da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên. Tổn thương vỡ xương hộp sọ, gãy xương lồng ngực trái và xương đùi trái được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên.

Tại bản Kết luận giám định số 1588/KL- KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K1- Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Dấu vết cong vênh, mài sát, thủng kim loại tại bên trái vỏ máy và dấu vết rách cao su, mài sát kim loại tại để chân trước bên trái, cần số trước của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 9 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ khuyết, cong vênh, mài sát kim loại tại giảm sóc trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 23 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu đen tại cánh yếm trái của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 1, số 3 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát kim loại, cao su tại bên phải má lốp và vành bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75 (ảnh số 24 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết chùn cong kim loại, bám dính chất màu đỏ (dạng gạch) tại phần đầu của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 gồm: khung kim loại đầu xe, tay nắm hai bên, ốp nhựa đầu xe, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 4 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tay cứng (như kẹp gạch) là phù hợp.

2. Ngoài dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 và xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75, trên hai phương tiện không phát hiện dấu vết va chạm với phương tiện khác.

3. Dấu vết dầu dạng bắn, ký hiệu số 1 phù hợp với quá trình sau khi và chạm vỏ máy của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 và giảm sóc trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75 vỡ, dầu tại các vị trí này bắn ra tạo nên.

4. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 và xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết dầu ký hiệu số 1 (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh khám nghiêm hiện trường), thuộc khu vực đường giao nhau giữa đường Q với đường liên thôn K đi xã H.

5. Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra tai nạn hai phương tiện ở tư thế đứng, xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75 chuyển động thẳng, xe mô tô biển kiểm soát 98K1-279.13 chuyển động theo hướng từ phải sang trái (theo chiều chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75).

6. Không xác định được tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.”

Ngày 03/10/2023, Phòng K1- Công an tỉnh B có Công văn số 802/KTHS giải thích đối với Kết luận giám định số 1588/KL-KTHS: “Không xác định được:

- Vị trí va chạm của hai phương tiện trên mặt đường trước điểm đầu dấu vết dầu,ký hiệu số 1 là bao nhiêu mét.

- Vị trí va chạm thuộc phần đường bên phải hay bên trái đường Quốc lộ 37 theo hướng H đi V hay đường liên xã theo hướng H đi Quốc lộ C.

- Khi hai phương tiện va chạm phần bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75 còn nằm trên đường Q hay không.”

Tại bản Kết luận giám định số 7488/KL- KTHS ngày 06/11/2023 của V- Bộ C, kết luận:

“Không xác định được:

- Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện trên mặt đường ở phía trước điểm đầu dấu vết dầu ký hiệu số 1 là bao nhiêu hoặc trước mép đường bên phải hướng H đi V là bao nhiêu.

- Vị trí va chạm đầu tiên của hai phương tiện trên thuộc phần đường Quốc lộ 37 hướng H đi V hay trên phần đường H đi Quốc lộ C (Hoặc bên phải hay bên trái mép đường bên phải hướng từ H đi V).

- Khi hai phương tiện va chạm với nhau phần bánh sau xe mô tô, biển số 98B1-583.75 còn nằm trên phần đường Quốc lộ 37 hay không.

- Khi hai phương tiện va chạm với nhau thì xe mô tô, biển số 98K1- 279.13 ở phần đường H đi V hay lề đường.”

Tại bản Kết luận giám định số 2243/KL- KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng K1- Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Không đủ cơ sở kết luận giám định tốc độ của hai phương tiện trước và sau khi xảy ra va chạm trong File Video có tên “8522959598253289.mp4” gửi giám định.

2. Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên thuộc phần đường nào; khoảng cách giữa vị trí va chạm đầu tiên với các dấu vết theo các yêu cầu giám định và không xác định được mép đường bên phải (Xác định theo hướng từ trái sang phải trên khung hình), do chất lượng hình ảnh có độ phân giải thấp.

3. Trích xuất được 16 (mười sáu) hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong File V gửi giám định.”

Tại bản Kết luận giám định số 552/KL- KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K1- Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 (một) file video có tên “8522959598253289.mp4"; dung lượng 162MB; thời lượng: 00 phút 21 giây được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.

2. Không quan sát thấy trước và trong khi xảy ra va chạm giữa hai phương tiện có tín hiệu xi nhan hay không, do chất lượng hình ảnh của file video thấp.

3. Trích xuất được 16 (mười sáu) hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong file video gửi giám định.”

Ngày 11/8/2023, Cơ quan điều tra trưng cầu Trung tâm Pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Đỗ K và ông Bùi Thế N.

Tại các bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1614/KLTTCT- TTPY, số 1614/KLTTCT- TTPY cùng ngày 21/8/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đỗ K là 47%, của Bùi Thế N là 03%.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V (nay là thị xã V), kết luận giá trị thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông: chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75 là 1.300.000 đồng, xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 279.13 là 6.670.000 đồng.

Đối với ông Bùi Thế N có khai không bật xi nhan xe mô tô khi chuyển hướng, tuy nhiên chỉ có duy nhất lời khai nhận của N, không có tài liệu, chứng cứ khác. Do vậy, không có căn cứ xác định ông Bùi Thế N điều khiển xe mô tô biển số 98B1-583.75, khi chuyển hướng không chú ý quan sát, không có tín hiệu báo rẽ dẫn đến tai nạn nên không đủ căn cứ để khởi tố bị cáo đối với Bùi Thế N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Đối với anh Đỗ Văn A biết K không có giấy phép lái xe mô tô nhưng khi K lấy xe đi thì anh A không biết nên không vi phạm pháp luật.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98K1-279.13 tài sản của anh Đỗ Văn A (là bố đẻ của K); xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98B1-583.75 là tài sản của ông Bùi Thế N. Cơ quan điều tra đã trả lại hai chiếc xe mô tô trên cho anh A và ông N. Đối với một số mảnh nhựa vỡ thu giữ khi khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ K đã tự nguyện hỗ trợ cho cho gia đình anh T số tiền 2.000.000 đồng; ông Bùi Thế N đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình anh T 30.000.000 đồng và hỗ trợ cho K 5.000.000 đồng. Hiện anh Nguyễn Tú T1 là đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo K bồi thường khoản tiền gì khác. Anh Đỗ Văn A và ông Bùi Thế N cũng không yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại của hai xe mô tô.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Đỗ K đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Đỗ K về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91; Điều 98 và Điều 100 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ K từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Do bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị không khấu trù thu nhập.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ các mảnh nhựa vỡ thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Đại diện bị hại có tranh luận đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Đỗ K nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp và người liên quan nhưng đã có đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa và có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

[3]. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên quan trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 05/7/2023, biết rõ Nguyễn Tú T không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng Đỗ K vẫn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu biển kiểm soát 98K1-279.13 (Khang tự ý lấy xe mô tô trên sáng ngày 05/7/2023 của anh Đỗ Văn A là bố đẻ K để đi xin việc) cho anh T điều khiển chở K từ thôn R, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang đến huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, K tiếp tục giao chiếc xe mô tô trên cho anh T điều khiển chở K đi từ huyện H đi theo đường Q để đi về nhà anh T. Khi đi đến khu vực ngã tư thôn K, xã V, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang, do anh T điều khiển xe mô tô đi với tốc độ nhanh, không chú ý quan sát nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98B1-583.75 do ông Bùi Thế N điều khiển đi phía trước cùng chiều đang rẽ phải để về xã H, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Hậu quả làm anh T tử vong, ông N bị thương tích 03% sức khỏe, K bị thương tích 37% sức khỏe, hai phương tiện bị hư hỏng một phần với tổng thiệt hại 7.970.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ K phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đỗ K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả”; “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và được đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảo nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đỗ K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ K đã tự nguyện hỗ trợ cho cho gia đình anh T số tiền 2.000.000 đồng; ông Bùi Thế N đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình anh T 30.000.000 đồng và hỗ trợ cho K 5.000.000 đồng. Hiện anh Nguyễn Tú T1 là đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo K bồi thường khoản tiền gì khác. Anh Đỗ Văn A và ông Bùi Thế N cũng không yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại của hai xe mô tô nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Do bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không khấu trù thu nhập.

[9]. Về vật chứng: Đối với một số mảnh nhựa vỡ thu giữ khi khám nghiệm hiện trường, cần tiêu huỷ.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91; Điều 98 và Điều 100 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đỗ K 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Miễn khấu trù thu nhập cho bị cáo Đỗ Khang .

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ các mảnh nhựa vỡ thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Công an thị xã Việt Yên;
  • - CCTHADS thị xã Việt Yên;
  • - UBND xã (phường) nơi BC cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Hồ sơ, Vp.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS - ST ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 124/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger