Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày 04 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Phong và bà Đặng Thị Mỹ Hường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Trường A, sinh năm: 1983, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trường T (chết) và bà Phú Thị H; bị cáo chưa có vợ con.

- Nhân thân:

  • + Ngày 05 tháng 11 năm 2003, bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc (nay là thành phố C), tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 17 tháng 4 năm 2004 chấp hành xong bản án;
  • + Ngày 15 tháng 8 năm 2005, bị Ủy ban nhân dân tỉnh A áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng, đến ngày 15 tháng 8 năm 2007 chấp hành xong quyết định;
  • + Ngày 12 tháng 12 năm 2008, bị Ủy ban nhân dân tỉnh A áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng, đến ngày 15 tháng 12 năm 2010 chấp hành xong quyết định;
  • + Ngày 21 tháng 11 năm 2013, bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, đến ngày 25 tháng 9 năm 2015 chấp hành xong quyết định.

2

- Tiền án:

  • + Ngày 06 tháng 5 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 26 tháng 12 năm 2017 chấp hành xong hình phạt tù;
  • + Ngày 05 tháng 7 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chiếm đoạt tài sản trị giá 559.000 đồng), đến ngày 27 tháng 3 năm 2019 chấp hành xong hình phạt tù;
  • + Ngày 24 tháng 4 năm 2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chiếm đoạt tài sản trị giá 765.000 đồng), đến ngày 18 tháng 12 năm 2020 chấp hành xong hình phạt tù;
  • + Ngày 01 tháng 7 năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chiếm đoạt tài sản trị giá 510.000 đồng), đến ngày 04 tháng 6 năm 2022 chấp hành xong hình phạt tù;
  • + Ngày 18 tháng 01 năm 2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chiếm đoạt tài sản trị giá 100.000 đồng), đến ngày 21 tháng 4 năm 2024 chấp hành xong hình phạt tù.

- Tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố L (có mặt).

* Bị hại:

  • + Bà Lê Thị H1, sinh năm: 1981; địa chỉ: số A đường S, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • + Bà Huỳnh Trúc C, sinh năm: 1988; địa chỉ: số F đường S, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Trường A đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 19 tháng 5 năm 2024, Trường A nảy sinh ý định đi tìm tài sản để lấy trộm, nên chuẩn bị sẵn 01 cây kìm cộng lực, một cây trúc dài, đầu có gắn móc bằng kim loại, một cái bao (loại chứa lúa gạo) màu trắng, hai dây băng bằng thun. Xong, điều khiển xe đạp đi từ thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang đến khu vực phường B, thành phố L. Đến khoảng 01 giờ ngày 19 tháng 5 năm 2024, khi đến nhà chị Lê Thị H1 tại số A S, khóm B, phường B, thấy 01 đôi giày mọi nam, nhãn hiệu Clarks, màu đen để trong hàng rào, Trường A dùng cây trúc có đầu móc, móc đôi giày để vào cái bao màu trắng, sau đó đi tiếp đến nhà chị Huỳnh Trúc C số 67E1 Sư Vạn H2, khóm B, phường B, dùng cây trúc đưa vào bên trong hàng rào móc lấy trộm 01 đôi dép da nam có quai hậu để vào bao màu trắng, chuẩn bị lên xe đạp điều khiển đi thì bị lực lượng Công an phường B tuần tra, nghi vấn đưa Trường A về trụ sở Công an phường B làm việc, thì Trường A đầu thú khai nhận hành vi lấy trộm tài sản.

3

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 xe đạp màu bạc, sườn ống cong, giỏ trước bằng nhựa màu trắng; 01 cây kìm cộng lực; 02 dây băng; 01 đôi giày; 01 đôi dép; 01 cây trúc, đầu có móc bằng kim loại; 01 cái bao màu trắng.

* Kết luận định giá tài sản số 861/KL-HĐĐGTS ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L, kết luận: 01 đôi giày mọi nam, nhãn hiệu Clarks, size 40, màu đen, chất da bò đế cao su, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 50% trị giá 300.000 đồng; 01 đôi dép da nam có quai hậu, nhãn hiệu HT, màu nâu đế cao su, size 39, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 50% trị giá 40.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Lê Thị H1, Huỳnh Trúc C đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSLX ngày 07 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Lê Trường A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Trường A khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Trường A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng các Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiện liên quan hành vi phạm tội; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe đạp (đã qua sử dụng). Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

4

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

Tại phiên toà, bị hại bà Lê Thị H1Huỳnh Trúc C vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của các đương sự không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Trường A đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Lê Trường A đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích. Ngày 19 tháng 5 năm 2024 tiếp tục thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 đôi giày của chị Lê Thị H1 trị giá 300.000 đồng và 01 đôi dép của chị Huỳnh Trúc C trị giá 40.000 đồng. Mặc dù tài sản chiếm đoạt có trị giá dưới 2.000.000 đồng, nhưng trước đó bị cáo đã bị kết án về hành vi cùng loại tội, tiền án đó chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi cùng loại tội do cố ý.

Hành vi của bị cáo Lê Trường A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, khỏe mạnh, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân. Lẽ ra, bị cáo phải tìm kiếm cho mình một việc làm chân chính để nuôi sống bản thân và rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội. Nhưng ngược lại, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải tốn sức lao động cực nhọc nên bị cáo đã nhiều lần bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

5

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã trả lại cho bị hại. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có nhân thân xấu, có 05 tiền án về hành vi cùng loại tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm gồm: 01 cây kìm cộng lực; 02 dây băng; 01 cây trúc, đầu có móc bằng kim loại; 01 cái bao màu trắng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe đạp màu bạc, sườn ống cong, giỏ trước bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Trường A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Trường A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/5/2024).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm gồm: 01 cây kìm cộng lực; 02 dây băng; 01 cây trúc, đầu có móc bằng kim loại; 01 cái bao màu trắng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe đạp màu bạc, sườn ống cong, giỏ trước bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

6

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Trường A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Long Xuyên;
  • - Công an thành phố Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an Tp. Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ - Công an Tp. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trường Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger