Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG MÃ

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 124/2024/HS - ST

Ngày 03 - 5 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Vân.

2. Ông Quàng Văn Tiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện S1 Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S1 Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S1 Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2024/HSST ngày 09 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hàng A G (tên gọi khác theo Quyết định kết nạp Đảng viên là Hàng G1) - Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Bản D, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt theo Quyết định số 127/QĐ/UBKTHU ngày 19/01/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy S1 Mã; Con ông Hàng A T (đã chết) và con bà G Thị S1; Bị cáo có vợ là Mùa Thị A và 02 con (con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2004); Tiền án, Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 11/01/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 02 giờ 00 phút, ngày 11/01/2024 tổ công tác Công an xã C, huyện S đến lán nương của Hàng A G để xác minh tố giác về việc G có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc G thừa nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy và tổ công tác thu giữ được từ túi quần bên trái đang mặc của G 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 04 viên nén màu hồng (G khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Ngày 11/01/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện S1, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: 04 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,38 gam đã trích 02 viên có khối lượng 0,19 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu G, vật chứng còn lại 02 viên có khối lượng 0,19 gam ký hiệu L.

Tại bản kết luận giám định số 345/KL ngày 15/01/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu G gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,38 gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra Hàng A G khai nhận: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 10/01/2024 khi G đang làm việc trên nương cà phê của gia đình thì có một người đàn ông dân tộc Mông không rõ danh tính đi ngang qua và mang ma túy ra mời G cùng sử dụng. Do là người nghiện ma túy nên G đã sử dụng ma túy cùng người này, sử dụng xong G hỏi mua ma túy từ người này với số tiền 50.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền và đưa cho G 01 gói nilon màu xanh bên trong có 04 viên Hồng phiến, G nhận gói ma túy và cất giấu vào túi quần đang mặc bên trái rồi đi bộ về lán nương. Đến 02 giờ, ngày 11/01/2024 thì tổ công tác đến lán nương của G làm nhiệm vụ, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 78/CT-VKSSM ngày 08 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện S1 Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện S1 Mã để xét xử Hàng A G về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hàng A G từ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định đang được đựng trong túi nilon cùng 01 túi nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện S1 Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 02 giờ 10 phút, ngày 11/01/2024 đối với Hàng A G cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon màu xanh bên trong có 04 viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 345/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,38 gam loại Methamphetamine”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/01/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,38 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.

Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện S1 Mã đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, cho bị cáo có thời gian cách ly khỏi xã hội đảm bảo cai nghiện được ma túy, cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

Số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định là vật Nhà Nước cấm tàng trữ, lưu hành cùng 01 túi nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Trong Quyết định kết nạp Đảng ngày 28/4/2006 của Huyện ủy S1 đối với bị cáo thì bị cáo có tên Hàng G1, sinh ngày 12/11/1980. Quá trình giải quyết vụ án CQCSĐT thu thập tài liệu về nhân thân và xác định được Hàng G1 trong Quyết định kết nạp Đảng chính là bị cáo Hàng A G, tên gọi Giang hay G không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án.

Về người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và đã xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Hàng A G (tên gọi khác: Hàng G1) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hàng A G (tên gọi khác: Hàng G1) 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 0,19 gam Hồng phiến được đựng trong túi nilon màu xanh và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 0021328.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 77/QĐ – VKS ngày 08/4/2024 của VKSND huyện S1 Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/4/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S1 Mã.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/5/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - VKSND huyện
  • - Công an huyện;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự;
  • - Sở TP;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS - ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 124/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị bắt qủa tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán kiếm lời
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger