Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:124/2024/HS-PT

Ngày 28 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà, ông Đào Chí Keo

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 184/2024/TLPT- HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Đoàn Minh P, do có kháng cáo của bị cáo P, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Đoàn Minh P (Cuội), sinh ngày 17/01/1989; nơi sinh tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Đ và bà Lê Kim T; vợ là Trần Thị Hương T1, sinh năm 1996 (ly thân); sống chung như vợ chồng với Lê Kim H, sinh năm 1995; có con tên Đoàn Thị Kim Y, sinh năm 2014. Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 22/5/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; đến ngày 09/6/2007 chấp hành xong bản án. Ngày 14/10/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; đến ngày 30/4/2009 chấp hành xong bản án. Ngày 29/12/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; đến ngày 10/4/2013 chấp hành xong bản án.

Tiền án: Ngày 27/9/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đến ngày 26/12/2022 chấp hành xong hình phạt.

1

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/8/2023, đến ngày 22/8/2023 tạm giam cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lưu Thị Phượng N, sinh ngày 24/5/1989; cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1985; cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
  3. Bà Nguyễn Thị B, sinh ngày 01/01/1964; cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng:

Chị Lê Kim H (vắng mặt); ông Hồ Văn P1 (vắng mặt).

Trong vụ án này còn có các bị cáo Lưu Nguyễn Thanh N1 (C), Nguyễn Công T3 (M), Mai Tấn N2 không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 13/8/2023, nhận được tin báo về tội phạm của quần chúng nhân dân, tại khu vực tổ I, ấp H, xã Đ, huyện T có đối tượng nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã Đ tiến hành đến khu vực trên kiểm tra, phát hiện Mai Tấn N2 điều khiển xe mô tô biển số 67M1-278.78 trên đường T. Khi thấy lực lượng đến, N2 điều khiển xe bỏ chạy vào hẻm nhà dân và lấy trong túi quần bên phải phía trước 02 bọc nilon trong suốt, có rãnh kéo viền màu xanh bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), bị Lực lượng Công an phát hiện 02 bọc nilon trên nên đã bắt giữ, dẫn giải N2 về trụ sở Công an xã Đ làm việc. N2 khai chất tinh thể màu trắng là ma túy do Đoàn Minh P (Cuội) và Nguyễn Công T3 (M) nhờ N2 ra thành phố L để lấy về cho Lưu Nguyễn Thanh N1 (C), nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cùng ngày 13/8/2023, T3 và Minh P biết hành vi phạm tội bị phát hiện nên đến Công an huyện T đầu thú, khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 12/8/2023, Minh P cùng Lê Kim H (sống chung như vợ chồng) đến quán K ở khóm Đ, thị trấn N, huyện T thuê phòng số 9 uống bia, hát karaoke cùng với N1. Lúc này, Minh P lấy ma túy, loại Ketamine mang theo trong người, đổ vào dĩa sành có sẵn trong phòng, dùng thẻ cào chia ma túy thành nhiều phần rồi dùng bật lửa đốt sử dụng cùng H, N1. Sau khi sử dụng hết ma túy, N1 sử dụng mạng xã hội Zalo nhắn tin nhờ Nguyễn Công T3 là nhân viên quán gặp Nguyễn Thị Thanh T2 chủ quán K mượn 7.000.000 đồng, nhưng không nói cho T2 biết mua ma túy sử dụng, T3 đồng ý. Sau khi mượn được tiền thì T3 đưa lại cho N1 1.600.000 đồng, giữ lấy 5.400.000 đồng, T3 liên hệ qua mạng xã hội Zalo cho người tên D chưa rõ nhân thân ở thành phố L mua ma túy. D đồng ý và hẹn T3 ra thành phố L lấy ma túy. Khi này T3 vào phòng số 9 cho N1 hay D kêu ra thành phố L lấy ma túy, rồi đi ra ngoài. Cùng lúc này, P điện thoại qua ứng dụng Messenger cho N2 kêu

2

ra thành phố L lấy ma túy và gặp T3 lấy tiền, N2 đồng ý. N2 đến gặp T3 lấy 5.400.000 đồng và T3 kêu mua 01 hộp ma túy dạng khay, hẹn nhau khi nào N2 đến khu vực vĩa hè gần ngân hàng A thuộc phường M, thành phố L thì điện thoại cho T3 để T3 điện thoại cho người đến giao ma túy. Sau khi thống nhất thời gian, địa điểm giao, nhận ma túy, xong. P kêu N2 gặp N1 lấy xe mô tô biển số 67M1- 278.78 của N1 (Nguyên mượn của chị ruột Lưu Thị Phượng N) một mình điều khiển xe đến khu vực vĩa hè ngân hàng A thuộc phường M, thành phố L, N2 liên lạc với T3, sau đó D đến giao 02 bọc ma túy cho N2 cất giấu trong người đem về cho N thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Đến ngày 22/8/2023, N đến Công an huyện T đầu thú.

Ngày 21/8/2023, 30/8/2023, N2, T3, P, N bị khởi tố điều tra.

Vật chứng thu giữ: 02 bọc nilon màu trắng có rãnh kéo, viền màu xanh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy); 01 xe mô tô biển số 67M1-278.78, hiệu Honda, loại CLICK, màu trắng, số khung 5188274, số máy 0188274 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11, số IMEI 356347119038086, sim số 0398448265 thu của Mai Tấn N2.

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, số máy MWLJ2VC/A; số sê ri: C8PCG0EKN72W của Đoàn Minh P giao nộp.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 10C, số Imel 1: 864763066430701/00, số Imel 2: 864763066430719/00, số sê-ri: 38625/62PN02522, sim số 0981341405 của Nguyễn Công T3 giao nộp.
  • - 01 điện thoại di động hiệu XIAOMI, loại Mi note 10 lite, số Imel 1: 869667042733713, sim số 0376191999 và sim số 0946889399 của Lưu Nguyễn Thanh N1 giao nộp.

Theo Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 13/8/2023 của Công an thị trấn N, huyện T, ghi nhận: Đoàn Minh P dương tính với ma túy, loại Ketamine.

Tại Kết luận giám định số 163/KL-KTHS(MT-GT) ngày 16/8/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu M1, M2 gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, có tổng khối lượng: 3,3109 gam.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSTS-HS, ngày 22/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Đoàn Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015; các bị cáo Lưu Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Công T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và bị cáo Mai Tấn N2 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã quyết định:

3

  • - Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh P (C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh P 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 8 năm 2023.

Ngoài ra, còn xử phạt bị cáo Lưu Nguyễn Thanh N1 (Cu Vàng) 02 năm tù; bị cáo Nguyễn Công T3 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Mai Tấn N2 02 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và xử lý vật chứng, tính án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/6/2024, bị cáo Đoàn Minh P có đơn kháng cáo không đồng ý với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đoàn Minh P vẫn khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xem xét lại tội danh “Tổ chức trái phép chất ma túy”.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P thành khẩn nhận tội, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đây là tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Minh P xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Minh P 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 8 năm 2023; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Minh P làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

4

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đoàn Minh P không thừa nhận hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo giai đoạn điều tra, lời khai của các bị cáo Mai Tấn N2, Lưu Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Công T3, người làm chứng Lê Kim H, biên bản đầu thú, biên bản đối chất (giữa những người này không có mâu thuẫn với bị cáo), đã đủ chứng cứ xác định bị cáo P đã cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho bị cáo N1 và người làm chứng Lê Kim H sử dụng tại phòng số 9 của quán K và giúp sức cho N1 trong việc nhờ N2 lấy tiền chỗ T3, đồng thời kêu N2 gặp N1 lấy xe mô tô của N1 để trực tiếp gặp người tên D lấy ma túy cho N1. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 13/8/2023, Mai Tấn N2 có hành vi vận chuyển trái phép 3,3109 gam ma túy, loại Ketamine cho Lưu Nguyễn Thanh N1, Đoàn Minh P, Nguyễn Công T3 và Lưu Nguyễn Thanh N1, Đoàn Minh P, Nguyễn Công T3 đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 3,3109 gam ma túy, loại Ketamine để sử dụng.

Ngoài ra, ngày 12/8/2023, Đoàn Minh P đã thực hiện hành vi tổ chức cho Lưu Nguyễn Thanh N1, Lê Kim H sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của các bị cáo Đoàn Minh P, Lưu Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Công T3 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Mai Tấn N2 đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự và bị cáo Đoàn Minh P đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy; đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm cho quần chúng nhân dân bất bình, do đó việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Lưu Nguyễn Thanh N1, Nguyễn Công T3 và Mai Tấn N2 không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra xem xét.

[5] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đoàn Minh P (Cuội).

Bị cáo Đoàn Minh P biết rõ ma túy là gây ghiện nếu sử dụng ảnh hưởng đến sức khỏe và là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn

5

cố ý thực hiện bằng cách chuẩn bị ma tuý, rủ rê và đưa ma túy vào dĩa sành, dùng bật lửa đốt ma túy cho Lưu Nguyễn Thanh N1 và Lê Kim H cùng sử dụng, sau khi sử dụng hết ma túy bị cáo P kêu N2 gặp T3 lấy tiền và gặp N1 lấy xe mô tô để ra thành phố L lấy ma túy về cho bị cáo N1. Bị cáo P có nhân thân rất xấu, nhiều lần bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, tội “Cướp giật tài sản”, gần đây nhất là tội “Cố ý gây thương tích” nhưng chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội mới, thể hiện bị cáo P là người xem thường pháp luật. Vì vậy, khi lượng hình cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo là có căn cứ; tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P thay đổi nội dung kháng cáo thành khẩn khai nhận tội, không kêu oan chỉ xin giảm nhẹ hình phạt về tội “Tổ chức trái phép chất ma túy”, đây là tình tiết mới, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giảm cho bị cáo P 01 năm tù về tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo P không phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Minh P (Cuội) về việc xin giảm nhẹ hình phạt đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Minh P (C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đoàn Minh P 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 8 năm 2023.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đoàn Minh P không phải chịu.

6

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao TP- Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - TAND thành phố Long Xuyên;
  • - Công an thành phố Long Xuyên;
  • - VKSND Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Toà Hình sự; HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vụ án hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 124/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bc Đoàn Minh P - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger