TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI *** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc * ** |
Bản án số 124/2025/HSST Ngày: 23/5/2025 | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN |
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đào Văn Hoan
- Bà Chu Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2025/TLST-HS ngày 5/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2025/QĐXXST-HS ngày 08/5/2025 đối với bị cáo:
Hồ Thị Hiếu K, sinh ngày 22/02/1999; nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị K1 (tức Lê Thị K2); có chồng là Bùi Bá C và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số 26 lập ngày 16/01/2025 tại Công an quận T; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến ngày 24/4/2025 được huỷ bỏ biện pháp tạm giam và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo hiện tại ngoại tại nơi cư trú (Có mặt)
Người bị hại: Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1990; HKTT: Số H đường N, N, Hồ N, Hà Tĩnh; chỗ ở hiện nay: P502 Chung cư S, số D V, phường T, quận T, Hà Nội (Vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1975; HKTT: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Ngõ A, xã T, T, Hà Nội (vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Hồ Thị Hiếu K làm giúp việc theo giờ, khi có ai thuê thì sẽ đến làm việc với giá 80.000 đồng/giờ. Thông qua trang mạng xã hội tìm người dọn dẹp trên Facebook, chị Phạm Thị Thu H liên hệ với K qua tài khoản facebook “Kim A” (là tài khoản Facebook của K) và thuê K đến nhà chị H tại P chung cư S, 47 V, Thanh Xuân T, T, Hà Nội để dọn dẹp nhà cho chị H nhiều lần từ ngày 21/9/2024. Lần đầu chị H giám sát và hướng dẫn K, phạm vi làm việc là tất cả các phòng trong căn hộ kể cả phòng ngủ của chị H. Từ những lần sau trở đi, mỗi lần K đến dọn nhà chị H vẫn ở nhà nhưng không giám sát mà thường làm việc hoặc ngủ ở phòng khách. Sau khi làm việc xong, chị H chuyển khoản thanh toán tiền công cho K vào số tài khoản 0611001988031 mở tại V tên Hồ Thị Hiếu K. Chị H không biết tên, tuổi, địa chỉ của K, chỉ liên hệ với K qua facebook “Kim Anh” của K.
Lợi dụng việc chị H không giám sát quá trình dọn dẹp nên K đã nhiều lần trộm cắp tài sản của chị H, cụ thể:
Lần thứ nhất: Sáng ngày 30/11/2024 theo đề nghị của chị H thì K đến nhà của chị H để dọn dẹp, chị H không giám sát K mà ngủ tại ghế xô - fa tại phòng khách. Quá trình dọn dẹp K thấy có 01 laptop nhãn hiệu Macbook Air màu trắng - kèm sạc được để ở trên kệ tủ gỗ màu trắng đầu giường trong phòng ngủ của chị H. Nảy sinh ý định trộm cắp chiếc laptop trên để bán lấy tiền tiêu xài, K đã trộm cắp chiếc laptop kèm sạc sau đó cất giấu vào trong túi vải của K (dùng để đựng đồ dọn nhà). Sau đó K tiếp tục dọn dẹp. Một lúc sau nhân lúc chị H vẫn đang ngủ, K lẻn rời khỏi nhà của chị H cùng với chiếc laptop vừa trộm cắp. Đến khoảng 09 giờ 30 cùng ngày, chị H nhắn tin cho K hỏi về chiếc laptop thì K nói dối chị H là không thấy và không biết chiếc laptop ở đâu. Sau khi trộm cắp được chiếc laptop, K mang về nhà cắm sạc thì chiếc laptop lên nguồn và sử dụng được. Chồng của K là anh Bùi Bá C (sinh năm: 1997; HKTT: Hải Thanh, N, Thanh Hóa) hỏi về nguồn gốc chiếc laptop thì K nói dối là mua của bạn với giá 2 triệu đồng. Đến ngày hôm sau, do K không mở được khóa màn hình laptop được nên đã mang đi bán được số tiền 500.000 đồng tại một cửa hàng máy tính cũ tại địa bàn quận Đ, TP . (hiện K không nhớ được địa chỉ cụ thể). Số tiền 500.000 đồng bán máy tính K đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mất chiếc laptop trên, chị H đã lắp camera trong phòng ngủ để kiểm tra, giám sát.
Lần thứ hai: Sáng ngày 21/12/2024, chị H tiếp tục thuê K đến để dọn nhà. Khi đến, K chủ động dọn dẹp nhà cửa còn chị H nằm ngủ ở ghế xô-fa tại phòng khách. Khi đang dọn dẹp trong phòng ngủ của chị H, K nhìn thấy 01 phong bao lì xì đỏ và 01 chiếc ví da màu hồng đều để ở trên kệ tủ trắng đầu giường. K nảy sinh ý định trộm cắp và mở chiếc ví da cùng phong bao lì xì ra xem thì thấy trong chiếc ví da có 700.000 đồng và trong phong bao lì xì có 6.610.000 đồng (bao gồm nhiều tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000, 200.000, 100.000, 50.000, 20.000, 10.000). Tuy nhiên lúc đó K chưa lấy số tiền này mà chờ khi nào chuẩn bị dọn xong sẽ trộm cắp và rời đi. Sau đó đến 09 giờ 52 phút cùng ngày, K quay lại phòng ngủ nhà chị H (chị H lúc đó vẫn ngủ ở ghế xô-fa ngoài phòng khách), lấy hết số tiền 700.000 đồng trong ví da màu hồng cất giấu trong túi quần bên trái rồi để lại chiếc ví da vào vị trí cũ trên tủ, sau đó K lấy chiếc lì xì màu đỏ bên trong có 6.610.000 đồng và cất giấu ở trong túi quần bên phải. Tổng số tiền K trộm cắp của chị H là 7.310.000 đồng. K tiếp tục dọn dẹp đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì ra về. Số tiền trộm cắp được sau đó K đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 23/12/2024, Cơ quan điều tra Công an quận T nhận được đơn trình báo của chị Phạm Thị Thu H về việc Hồ Thị Hiếu K có hành vi trộm cắp tài sản và cung cấp cho Cơ quan điều tra hình ảnh camera cùng các tài liệu liên quan.
Ngày 09/01/2025, Cơ quan điều tra ra lệnh bắt khẩn cấp, thu giữ của Hồ Thị Hiếu K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C màu đen, số imei2: 251682950291369, bên trong lắp sim số 0356082217 để phục vụ công tác điều tra.
Kết luận định giá tài sản số 18/KLĐG ngày 24/02/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) máy tính Macbook Air, kích thước 13 inch, số model A1466, dung lượng 128Gb, số Sê-ri: C02NKYGBG085, sản xuất năm 2014 (tài sản đã qua sử dụng, không thu hồi được) trị giá 3.000.000 đồng.
Kết quả kiểm tra chiếc điện thoại di động đã thu giữ của Hồ Thị H1 Kiên không phát hiện nội dung gì liên quan đến tội phạm, do đó ngày 28/2/2025 cơ quan điều tra đã bàn giao chiếc điện thoại cho gia đình bị cáo.
Quá trình điều tra, Hồ Thị Hiếu K đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSTX ngày 25/04/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Hồ Thị Hiếu Kiên về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Hồ Thị Hiếu K từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Tại Phòng 502 chung cư S, 47 V, T, T, Hà Nội, Hồ Thị Hiếu K đã hai lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Phạm Thị Thu H, cụ thể: ngày 30/11/2024 chiếm đoạt 01 chiếc máy tính laptop trị giá 3.000.000 đồng; ngày 21/12/2024 chiếm đoạt số tiền 7.310.000 đồng. Tổng số tài sản chiếm đoạt là 10.310.000 đồng
Hành vi của Hồ Thị Hiếu K đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tích cực bồi thường cho người bị hại; khi phạm tội bị cáo là phụ nữ có thai; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, mặc dù phạm tội 02 lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trong, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, chăm sóc gia đình, tu dưỡng bản thân để phát triển thành người có ích, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, mẹ đẻ bị cáo là bà Nguyễn Thị K1 đã bồi thường tổng số tiền 43.000.000 đồng cho chị Phạm Thị Thu H. Chị H không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, bà K1 không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại cho bà số tiền 43.000.000 đồng nên Toà không xét.
[6] Đối với chiếc máy tính xách tay bị cáo đã trộm cắp của chị H, bị cáo không nhớ được vị trí cửa hàng mà bị cáo đã bán chiếc máy tính đó nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ.
Đối với tài sản là đồng hồ, dây chuyền và tiền ngoại tệ chị Phạm Thị Thu H trình báo bị mất trộm, chị H không đưa ra được thông tin, tài liệu về tài sản bị mất, quá trình điều tra K không thừa nhận trộm cắp những tài sản này. Đồng thời không có tài liệu, chứng cứ chứng minh K lấy các tài sản này, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[7] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào các điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 10 Thông tư liên tịch số 02/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 27/2/2025 của Bộ C2, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao,
- Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Hiếu K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt Hồ Thị Hiếu K 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa có nhiệm vụ giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Công an phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa trực tiếp thực hiện việc giám sát bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- - TAND TP Hà Nội.;
- - VKSND TP Hà nội;
- - Cơ quan đã khởi tố, điều tra, truy tố;
- - Cơ quan thi hành án;
- - Bị cáo;
- - Người bị hại;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - Lưu HS, VT.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 124/2025/HSST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 124/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
