|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 124/2025/HS-ST Ngày: 27/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Lưu - Giáo viên nghỉ hưu
Ông Nguyễn Văn Hiệp - Cán bộ hưu
Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2025/TLST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐXXST-HS, ngày 12/3/2025 đối với bị cáo:
Mã Phúc L, sinh ngày 03/5/2007; HKTT: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mã Văn D, sinh năm 1978 và bà Nông Thị T, sinh năm 1980; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/01/2025. Hiện tại ngoại. Có mặt.
*Người đại diện hợp pháp của bị cáo L: Ông Mã Văn D, sinh năm 1978 và bà Nông Thị T, sinh năm 1980 (là mẹ đẻ của bị cáo L); HKTT: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Ông D ủy quyền cho bà T. Có mặt.
*Người bào chữa cho bị cáo L: Bà Nguyễn Thị T1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL tỉnh B. Có mặt.
* Bị hại: Anh Ninh Xuân N, sinh năm 2003; HKTT: Tam Thắng, N, N, Nam Định; Nơi ở hiện tại: Khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 21/01/2025, tại đường L, phường V, thành phố B, quần chúng nhân dân đã phát hiện, bắt quả tang Mã Phúc L, sinh ngày 03/5/2007, HKTT: Thôn N, xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đang lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 18LA-049.20 của anh Ninh Xuân N, sinh năm 2003, HKTT: thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, đang thuê trọ tại Khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 18LA-049.20.
Quần chúng nhân dân đã báo Công an phường V đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa L cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở làm việc
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 18LA-049.20, xe đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 17.600.000 đồng”.
Về vật chứng: Ngày 23/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả lại 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen BKS 18LA-049.20 cho anh Ninh X Nghĩa là phù hợp. Anh N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Mã Phúc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận như sau: Mã Phúc L đến KCN Q tìm việc làm và thuê trọ tại khu N, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang từ giữa tháng 01/2025. Do chưa xin được việc làm, không có tiền chi tiêu cá nhân nên L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản đem bán.
Khoảng 19 giờ ngày 21/01/2025, L bắt xe ô tô khách từ khu trọ đến phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Khi đến nơi, L xuống xe đi bộ vào trong các khu trọ ở khu C, phường V tìm xem ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, L đi đến khu trọ của gia đình anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985, thì thấy cổng khu trọ không khóa nên đi vào trong sân. Tại đây, L phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 18LA 049.20 của anh Ninh Xuân N đang dựng trước cửa phòng trọ. Quan sát thấy không có ai trông coi, xe không khóa cổ, không khóa càng, L liền tiến đến vị trí dựng xe dắt chiếc xe ra cổng khu trọ. Sau đó, L ngồi lên xe dùng hai chân đẩy xe đi. Khi L đẩy xe mô tô vừa trộm cắp cách cổng khu trọ khoảng 5m thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Bị hại là anh Ninh Xuân N vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của anh N trong hồ sơ thể hiện: Anh đã nhận lại được xe và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo: Mã Phúc L về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Mã Phúc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự; Luật tư pháp người chưa thành niên; Xử phạt: Mã Phúc L từ 8 đến 10 tháng tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/3/2025. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Không.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo L.
Người bào chữa cho bị cáo L trình bày: Bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đề nghị HĐXX áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Chương 6 Luật tư pháp người chưa thành niên, cho bị cáo được hưởng án treo, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thành phố B, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Do không có tiền chi tiêu, hồi 20 giờ 15 phút ngày 21/01/2025, tại khu trọ của gia đình anh Nguyễn Văn T2 ở khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Mã Phúc L đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 18LA-049.20 của anh Ninh Xuân N có trị giá là 17.600.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Vì vậy hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương, cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn là tình tiết áp dụng cho bị cáo được trợ giúp pháp lý miễn phí và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, tuy nhiên đây không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Đều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Người bào chữa. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo là người dưới 18 tuổi, vì vậy cần áp dụng những tình tiết có lợi cho các bị cáo quy định tại khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Căn cứ vào tính chất của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cũng đủ để cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo L.
[4] Về vật chứng: Ngày 23/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả lại 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen BKS 18LA-049.20 cho anh Ninh X Nghĩa là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, vì vậy miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mã Phúc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024; Khoản 1, 3 Điều 329; Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;
Xử phạt: Mã Phúc L 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/3/2025.
Giao bị cáo Mã Phúc L cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Bị cáo Mã Phúc L được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Trang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Hiệp Ngô Văn Lưu |
Vũ Thu Trang |
Bản án số 124/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 124/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
