|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH Bản án số: 124/2025/HS-ST Ngày 24-10-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Anh Tuấn
2. Bà Phạm Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Nhật Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2025, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức D; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 14/01/1986, tại Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ C, khu D, phường C, thành phố H (nay là Tổ C, khu D, phường H), tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Nam H, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; có vợ đã ly hôn, chưa có con;
Tiền án: Năm 2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 14 năm tù, về tội “Cướp tài sản”. Ngày 16/3/2020, chấp hành xong hình phạt tù; chưa chấp hành xong phần dân sự của bản án;
Nhân thân: Năm 2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong Bản án ngày 07/4/2006;
Tiền sự: chưa có;
Bị cáo đầu thú ngày 02/5/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Đinh Thị T1, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Tổ C, khu H, phường C, tỉnh Quảng Ninh.
(Uỷ quyền cho anh Nguyễn Văn V tham gia tố tụng)
+ Nguyễn Văn V, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Tổ B, Khu H, phường C, tỉnh Quảng Ninh;
Vắng mặt tại phiên toà, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Phi M, Phạm Xuân Đ – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức D làm nghề xây dựng và đang nợ tiền trả cho công nhân do các chủ công trình cũng đang nợ tiền của D. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/4/2025, sau khi đá bóng xong tại sân bóng S thuộc phường C, tỉnh Quảng Ninh, D đi về bằng cổng phụ thì nhìn thấy chìa khóa của chiếc xe ô tô bị rơi dưới đất nên nhặt cất vào người. Khi D đi bộ đến cổng chính thì thấy mọi người đã về hết, chỉ còn anh Nguyễn Văn V đang đứng cạnh chiếc xe nhãn hiệu Mitsubishi Xforce P1, màu sơn đen, biển số 14A- 947.63 (chủ sở hữu là chị Đinh Thị T1, sinh năm 1995, trú tại tổ C, khu E, phường C - vợ anh V) nhưng không mở được cửa xe, nên D biết chiếc chìa khóa vừa nhặt được là của chiếc xe ô tô này.
Sau đó, D cầm theo chiếc chìa khóa xe ô tô trên mang về giấu ở mái chuồng chó ở sân nhà, thuộc tổ C, khu C, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Mấy ngày sau, D đi qua khu vực đường thuộc tổ B, khu H, phường C, tỉnh Quảng Ninh thì thấy chiếc xe ô tô trên đỗ ở lòng đường không có người trông coi. Do đang thiếu tiền nên D nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe, mang đi cầm cố lấy tiền trả nợ.
Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 30/4/2025, D cầm theo chìa khóa chiếc xe ô tô trên rồi đi xe ôm đến khu vực tổ B, khu H, phường C, tỉnh Quảng Ninh để trộm cắp chiếc xe ô tô, nhưng không thấy chiếc xe đó. D gọi điện qua ứng dụng Zalo cho bạn là anh Nguyễn Phi M, sinh năm 1988, trú tại tổ G, khu H, phường H, tỉnh Quảng Ninh bảo đến đón D ở quán B thuộc phường H đưa đi có việc, anh M đồng ý. Khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày, anh M đến nơi, D chỉ đường cho anh M đi theo hướng cầu K đến khu vực Chung cư R thuộc phường C thì D xuống xe rồi bảo anh M đi về, D không nói cho M biết việc sẽ đi trộm cắp tài sản. D tiếp tục đi bộ đến khu vực chiếc xe ô tô đỗ tại tổ B, khu H, phường C. Khoảng 0 giờ 48 phút ngày 30/4/2025, D đến nơi thì thấy chiếc xe ô tô Mitsubishi Xforce P1, màu sơn đen, biển số 14A- 947.63 đang đỗ ở lòng đường gần 01 trạm biến áp, có 01 chiếc xe ô tô tải đỗ phía trước đầu xe, không có ai trông coi, không có người qua lại. D dùng chìa khóa điện mở khóa chiếc xe thì thấy khóa xe được mở. Do sợ có người phát hiện nên D mở cửa bên ghế phụ phía trước vào trong xe sau đó trèo sang bên ghế lái rồi nhanh chóng lái xe bỏ đi. D lái chiếc xe ô tô vừa trộm cắp được đi theo hướng phường H qua cầu B rồi tiếp tục đi đến đoạn đường cạnh bãi đất trống gần khách sạn A1, thuộc phường H, tỉnh Quảng Ninh để cất giấu chiếc xe trên. D dự định sau khi làm được giấy tờ giả sẽ quay lại lấy chiếc xe mang đi tìm nơi cầm cố. Sau đó, D gọi điện cho anh M, hẹn đến khu vực Chung cư N thuộc phường B, tỉnh Quảng Ninh để đón D về. D đi bộ đến gần chung cư N thì cởi áo khoác và mũ ra vứt vào bụi cây ở vỉa hè rồi đi bộ thêm khoảng 40m thì gặp anh M điều khiển xe mô tô đến đón rồi chở D về nhà. Khi về đến nhà D giấu chiếc chìa khóa ở chuồng chó rồi đi ngủ.
Sáng ngày 30/4/2025, anh V phát hiện bị mất chiếc xe ô tô trên nên đã đến Công an phường C trình báo.
Quá trình rà soát, đến ngày 01/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q tìm được chiếc xe ô tô trên tại đoạn đường cạnh bãi đất trống ở gần khách sạn A1, thuộc phường H, tỉnh Quảng Ninh.
Đến ngày 02/5/2025, Nguyễn Đức D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đầu thú, giao nộp bộ quần áo, đôi giày, 01 chiếc chìa khóa xe ô tô và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại Nguyễn Đức D giao nộp, xác định: D có tìm hiểu thông tin về loại xe Xforce; kiểm tra lịch sử truy cập trang Google tìm kiếm nội dung “vụ mất ô tô ở quảng ninh”; trên ứng dụng Zalo có các tin nhắn với một tài khoản, theo D khai là để thuê làm giả giấy tờ xe.
Tiến hành cho D xác định các địa điểm liên quan đến vụ án, D xác định được các địa điểm như sau: địa điểm nhặt được chìa khóa xe ở sân bóng S; địa điểm anh M chở đến khu vực gần hiện trường trộm cắp xe ô tô (qua chung cư R); vị trí D trộm cắp xe ô tô là đối diện cửa nhà số A (ở tổ B khu H, phường C); vị trí cất giấu xe (gần khách sạn, chung cư A ở H); vị trí cất giấu chìa khóa là tại chuồng chó ở sân của nhà D tại địa chỉ tổ C, khu D, phường H; vị trí cất giấu mũ, áo khoác ở vỉa hè đoạn đường thuộc tổ D, khu E, phường B, thành phố H.
Kết quả khám nghiệm hiện trường tại khu vực đường dân sinh thuộc khu D, phường H, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xforce P1 gắn biển số 14A-947.63 đỗ trên mặt đường bê tông rộng 10m, cách mép đường bên phải 0,25m, từ trục bánh sau bên phải về phía Đông Nam đến góc phía T của Khách sạn, chung cư A T2 là 70m. Tại thời điểm khám nghiệm, xe trong trạng thái khóa, trên các cánh cửa xe không phát hiện dấu vết cạy phá. Kiểm tra trong xe ô tô, có lắp camera hành trình, tại vị trí cốp để đồ giữa ghế lái và ghế phụ mở, phát hiện vỏ chai nước khoáng thiên nhiên Quang Hanh bằng nhựa. Cách vị trí cốp để đồ 0,4m về phía trước (khu vực phía trước cần số xe) có 01 nắp nhựa màu trắng. Cốp để đồ phía trước ghế phụ có 01 túi dạng túi da, bên trong có chứa các giấy tờ xe “Giấy chứng nhận kiểm định”, “Giấy chứng nhận bảo hiểm”. Cơ quan điều tra đã thu giữ xe ô tô, thẻ nhớ trong camera hành trình, các dấu vết trên xe ô tô, 01 vỏ và nắp chai nhựa.
Kết quả xác định hiện trường và khám nghiệm hiện trường tại địa điểm bị can D trộm cắp xe xác định: nhà anh Nguyễn Văn V là số A đường T, phường C. Vị trí xảy ra vụ trộm cắp xe ô tô là tại phần đường bên phải, hướng đi đường T, giáp Công ty Cổ phần V2 (số nhà A), cách đầu đường T 60m. Từ vị trí này về phía T 19m, là căn nhà số 130 của gia đình ông Nguyễn Hữu V1, có gắn 01 camera quan sát ra khu vực hiện trường. Cơ quan điều tra đã thu giữ hình ảnh tại camera này.
Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q cho bị cáo Nguyễn Đức D xác định hình ảnh trong camera thu giữ tại hiện trường. Bị cáo xác định bản thân là người trong video ghi lại có hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 30/4/2025.
Kết luận giám định số 585/KL-KTHS ngày 15/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: Trên chai nước gửi giám định có dấu vết ADN của một người phụ nữ, kiểu gen phân tích được đủ yếu tố truy nguyên cá thể. Trên các dấu vết gửi giám định còn lại có ADN người, kiểu gen phân tích được không đủ yếu tố truy nguyên cá thể.
Kết luận định giá tài sản số 48/LKĐGTS ngày 08/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định, tại thời điểm tháng 4/2025, chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi loại Xforce P1, gắn biển số 14A-947.63, trị giá 681.188.000₫ (Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Đức D đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Ngoài ra, D còn khai: Sau khi trộm cắp xe, D tìm trên mạng xã hội Facebook để tìm hiểu về chiếc xe ô tô trên và tìm kiếm 01 số trang nhận làm giấy tờ giả (đăng ký, đăng kiểm) với tên của D, mục đích để khi làm được giấy tờ giả D sẽ tìm chỗ nhận cầm cố chiếc xe, nhưng chưa tìm được.
Tại bản cáo trạng số 8033/CT-VKSQN-P2, ngày 29 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức D từ 13 năm đến 14 năm tù, thời hạn tính kể từ ngày 02/5/2025.
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dụng;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106, điểm b khoản 3 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo sơ mi tối màu có kẻ sọc, 01 quần bò tối màu; 01 đôi giày màu đen có đường kẻ sọc trắng, đế giày có chữ A; Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Pro; 01 Giấy phép lái xe số [...], mang tên Nguyễn Đức D, sinh ngày 14/01/1986.
Về bồi thường dân sự: Chị Đinh Thị T1 và anh Nguyễn Văn V không đề nghị bồi thường nên không đề cập xử lý.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đức D thừa nhận mọi hành vi như bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Q và điều tra viên; của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, cơ quan Điều tra Công an tỉnh Q và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và truy tố. Vì vậy, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về đánh giá chứng cứ:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại, người làm chứng. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ.... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, khoảng 0 giờ 48 phút ngày 30/4/2025, tại khu vực tổ B, khu H, phường C, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức D có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe ô tô biển số 14A-947.63, trị giá 681.188.000 đồng của gia đình anh Nguyễn Văn V, rồi điều khiển xe đi đến cất giấu tại đoạn đường dân sinh đối diện khách sạn A1, thuộc phường H, tỉnh Quảng Ninh, mục đích sau khi làm giả được giấy tờ xe, D sẽ mang xe đi cầm cố để lấy tiền chi tiêu.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức D là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Do tham lam, lười lao động, muốn có tiền chi tiêu cá nhân mà không phải mất công sức lao động, bị cáo lén lút trộm cắp tài sản của những người bị hại nêu trên với trị giá 681.188.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; ...”
[4] Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan. Hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Việc đưa bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra là cần thiết.
[5] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: bị cáo Nguyễn Đức D đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý (Cướp tài sản), chưa được xóa án tích, lại thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng:
Đối với 01 áo sơ mi tối màu có kẻ sọc, 01 quần bò tối màu; 01 đôi giày màu đen có đường kẻ sọc trắng, đế giày có chữ Adidas của bị cáo không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Pro và giấy phép lái xe mang tên bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản trộm cắp đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, bị hại không có đề nghị bồi thường nên không đề cập xử lý.
[9]Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[11]Về các vấn đề khác:
Đối với anh Nguyễn Phi M đã chở Nguyễn Đức D đến gần vị trí trộm cắp xe ô tô, sau đó sang phường B đón D về, nhưng anh M không biết việc D trộm cắp và cất giấu tài sản. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức D 13 (mười ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tính từ ngày 02/5/2025.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) áo sơ mi tối màu có kẻ sọc, 01 (một) quần bò tối màu, 01 (một) đôi giày màu đen có đường kẻ sọc trắng, đế giày có chữ Adidas;
+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Pro và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức D số 22028017824 do Sở giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 12/4/2021.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 41/BB-THA ngày 30/9/2025 giữa Thi hành án Dân sự tỉnh Q và Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo Nguyễn Đức D biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Bình |
Bản án số 124/2025/HS-ST ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 124/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, khoảng 0 giờ 48 phút ngày 30/4/2025, tại khu vực tổ B, khu H, phường C, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức D có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe ô tô biển số 14A-947.63, trị giá 681.188.000 đồng của gia đình anh Nguyễn Văn V, rồi điều khiển xe đi đến cất giấu tại đoạn đường dân sinh đối diện khách sạn A1, thuộc phường H, tỉnh Quảng Ninh, mục đích sau khi làm giả được giấy tờ xe, D sẽ mang xe đi cầm cố để lấy tiền chi tiêu.
