TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2025/HS-ST
Ngày: 19-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Sơn Tây.
Ông Tống Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Hồ Văn T, sinh năm 1998 tại An Giang; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Nguyễn Văn N tại số A, tổ A, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T1 và bà Nguyễn Thị L; vợ Nguyễn Thị Hồng N1; có 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2025 đến nay; có mặt
- Trương Hoài P, sinh năm 1994 tại An Giang; nơi thường trú: Ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: Nhà trọ Hoàng Thế C, tổ B, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Tấn H và bà Lê Thị Ngọc S; vợ Ngô Thị L1; bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2025 đến nay; có mặt
- Nguyễn Bảo Q, sinh năm 1996 tại An Giang; nơi thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: Khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Trần Thị Chi L2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2025 đến nay; có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH S1 (V); địa chỉ trụ sở: C, đường N, khu công nghiệp N, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978; địa chỉ: C, đường N, khu công nghiệp N, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Hải E và ông Đặng Văn N2 có mặt. Ông Trần Vũ Trường G, ông Lê Hữu N3 có đơn yêu cầu giải vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q và Trương Hoài P là công nhân cùng làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 (V) (gọi tắt là Công ty S1). Trạng là tổ trưởng tổ đánh bóng sản phẩm, Q là tài xế lái xe nâng và P là tài xế lái xe tải giao hàng của Công ty S1.
Trong quá trình làm việc tại Công ty S1, T thấy có hàng là các tay nắm cửa bị lỗi thuộc loại hàng phế liệu. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/7/2024, T nói Nguyễn Hải E và Lê Hữu N3 (đều là công nhân của Công ty S1, làm việc tại bộ phận đánh bóng sản phẩm) gom và đóng gói các tay nắm cửa nêu trên lên pallet và cân được 572kg. Sau đó, T nhờ Nguyễn Hải E và Lê Hữu N3 sử dụng xe nâng tay đẩy 01 pallet hàng 572kg tay nắm cửa nêu trên từ kho đánh bóng đem ra để trước cửa kho của Công ty S1. Lúc đó, T rủ Q mang số tay nắm cửa này ra ngoài bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, T nói với Q cùng thực hiện với T còn có một người nữa nhưng T không nói người cùng thực hiện với T là ai, mục đích là để sau khi bán được tài sản thì T sẽ được chia hai phần, Q đồng ý. Sau đó, Q nhờ Trần Vũ Trường G (là công nhân làm bộ phận kho của Công ty S1) quấn màng PE quanh pallet hàng. Đến khoảng 09 giờ 00 cùng ngày, lợi dụng việc được giao nhiệm vụ nâng kiện hàng lên xe ô tô tải biển số 61LD-004.01 do Trương Hoài P điều khiển để đi giao cho khách hàng. Q đã sử dụng xe nâng hàng của Công ty nâng pallet hàng chứa 572kg tay nắm cửa bằng kim loại hàng phế liệu lên xe ô tô tải biển số 61LD-0401. Sau đó, P điều khiển xe ô tải nêu trên đi giao pallet hàng theo phiếu xuất kho của Công ty. Khi xe ô tô tải biển số 61LD-004.01 ra khỏi Công ty S1 thì Q gọi điện thoại nói với P trên xe tải 61LD-004.01 do P điều khiển ngoài pallet hàng theo phiếu xuất kho của Công ty thì có 572kg tay nắm cửa bằng kim loại hàng phế liệu lấy của Công ty S1 và Q rủ P cùng đem số tay nắm cửa mang ra ngoài bán lấy tiền tiêu xài thì P đồng ý.
Trên đường đi P gọi điện thoại cho một người tên H3 (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi người thu mua phế liệu thì người này cho P số điện thoại của một người đàn ông không rõ lai lịch chuyên thu mua phế liệu, P gọi điện thoại cho người đàn ông này hỏi bán 572kg tay nắm cửa bằng kim loại hàng phế liệu thì người này đồng ý mua với giá 14.000.000 đồng và nói P chạy đến điểm hẹn tại khu dân cư T thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giao hàng. Khi chạy đến điểm hẹn P không thấy ai nên đẩy pallet hàng chứa 572kg tay nắm cửa bằng kim loại hàng phế liệu xuống rồi tiếp tục chạy đi giao hàng. Khoảng hai tiếng sau thì có người gọi cho P hẹn gặp tại khu vực vòng xoay thuộc phường T để đưa số tiền 14.000.000 đồng là tiền bán 572kg tay nắm cửa bằng kim loại hàng phế liệu (còn số tay nằm cửa đã có người lấy trước đó).
Đến sáng ngày 16/7/2024, P gặp Q ngoài đường gần Công ty S1, lúc này P nói số tay nắm cửa lấy trộm của Công ty bán được số tiền 14.000.000 đồng rồi P đưa cho Q số tiền 11.500.000 đồng để Q và T chia nhau, P giữ lại số tiền 2.500.000 đồng là phần của P. Sau đó, P và Q vào Công ty làm việc như bình thường. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, Q gọi Trạng vào nhà vệ sinh trong Công ty, lúc này Q đưa cho T số tiền 11.500.000 đồng, T lấy 7.400.000 đồng và chia cho Q 4.100.000 đồng. Đến 17 giờ 30 phút, ngày 16/7/2024, Công ty S1 phát hiện ra việc bị mất trộm tài sản nên đã đến Đồn Công an Khu công nghiệp thành phố T để trình báo sự việc. Quá rà soát camera trong Công ty thì Cơ quan Công an xác định được Hồ Văn T, Trương Hoài P và Nguyễn Bảo Q là người đã lấy trộm tài sản của Công ty S1. Tại Cơ quan Công an Hồ Văn T, Trương Hoài P và Nguyễn Bảo Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của Công ty S1. Đồn Công an Khu công nghiệp thành phố T đã lập hồ sơ ban đầu và chuyền cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T để thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 183/KL-HĐĐGTS ngày 27/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: 572kg tay nắm cửa bằng kim loại (hợp kim nhôm), loại hàng phế phẩm (sản phẩm lỗi sau khi đúc khuôn và đánh bóng không đạt yêu cầu được loại ra hàng phế phẩm) có giá trị là 22.479.600 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn sáu trăm đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá của Hội đồng định giá nêu trên.
Cáo trạng số 136/CT-VKS.TU ngày 06/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Hồ Văn T, Nguyễn Quốc B, Trương Hoài P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn T mức hình phạt từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Q mức hình phạt từ phạt từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Hoài P mức hình phạt từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm.
Buộc bị cáo Hồ Văn T phải nộp số tiền 7.400.000 đồng, bị cáo Nguyễn Bảo Q nộp số tiền 4.100.000 đồng, bị cáo Trương Hoài P nộp số tiền 2.500.000 đồng là tiền các bị cáo thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với các điện thoại của Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q và Trương Hoài P sử dụng để bàn bạc và liện lạc bán tài sản của Công ty S1. Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận đã làm mất nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được.
Đối với Nguyễn Hải E, Lê Hữu N3, Trần Vũ Trường G và Đặng Văn N2 không biết việc Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q và Trương Hoài P lấy trộm tài sản của Công ty S1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không đề nghị xử lý.
Đối với người tên H3 và người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch mua số tài sản do Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q và Trương Hoài P lấy trộm tài sản của Công ty S1. Quá trình điều tra không xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không tranh luận.
Trong phần trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội chăm lo cho gia đình và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Lời khai của các bị cáo Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q, Trương Hoài P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Ngày 15/7/2024, tại đường N, khu công nghiệp N, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q, Trương Hoài P đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 572 kg các tay nắm cửa bị lỗi thuộc loại hàng phế liệu của Công ty TNHH S1 (V), giá trị tài sản chiếm đoạt là 22.479.600 đồng. Hành vi của các bị cáo Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q, Trương Hoài P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố các bị cáo Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q, Trương Hoài P với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
- [4] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó bị cáo T2 là người rủ rê và được hưởng lợi nhiều nhất, tiếp đến là bị cáo Q với vai trò rủ rê bị cáo P, bị cáo P là người vận chuyển và tìm người để bán tài sản chiếm đoạt được, các bị cáo đều là người thực hành tích cực. Do đó, trong vụ án này bị cáo Trạng có vai trò cao nhất, tiếp đến bị cáo Q và bị cáo P.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [7] Các bị cáo Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q, Trương Hoài P đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì các bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng án treo và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian nhất định nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước.
- [8] Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- [10] Buộc bị cáo Hồ Văn T phải nộp số tiền 7.400.000 đồng, bị cáo Q nộp số tiền 4.100.000 đồng, bị cáo P nộp số tiền 2.500.000 đồng là tiền các bị cáo thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- [11] Đối với người tên H3 và người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch mua số tài sản do Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q và Trương Hoài P lấy trộm tài sản của Công ty S1. Quá trình điều tra không xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Hải E, Lê Hữu N3 và Trần Vũ Trường G, Đặng Văn N2 không biết việc Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q và Trương Hoài P lấy trộm tài sản của Công ty S1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không đề nghị xử lý, là phù hợp.
- [12] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q, Trương Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm, tính từ ngày Tòa tuyên án (ngày 19/6/2025).
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo Q 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày Tòa tuyên án (ngày 19/6/2025).
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Trương Hoài P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày Tòa tuyên án (ngày 19/6/2025).
Giao bị cáo Hồ Văn T3 và bị cáo Trương Hoài P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Bảo Q cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- Buộc bị cáo Hồ Văn T phải nộp số tiền 7.400.000 đồng, bị cáo Nguyễn Bảo Q phải nộp số tiền 4.100.000 đồng, bị cáo Trương Hoài P phải nộp số tiền 2.500.000 đồng là tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Hồ Văn T, Nguyễn Bảo Q, Trương Hoài P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 124/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 124/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn T - TRộm cắp tài sản
