|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2025/HS-PT Ngày: 27 - 02 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Đức Toàn |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Hùng |
| Bà Bùi Thị Thu |
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1177/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị Hồng D do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị Hồng D, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1981, nơi sinh thành phố L, tỉnh An Giangnơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giangchỗ ở tạm trú hiện tại: Số G, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giangnghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T bà Tạ Thị Tuyến N chồng Nguyễn H T1bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, bị cáo vắng mặt, có đơn xin hoãn phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Hoàng P phòng luật sư Hồ Hoàng P1 Đoàn luật sư tỉnh A Địa chỉ: Số A, T, tổ A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang(vắng mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diện bị hại không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần D20(Đăng ký ngành nghề kinh doanh: dịch vụ bảo vệ; trụ sở tại số B C, Phường A, quận T, Thành phố H ông Trần Đình L tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc là Đại diện theo pháp luật; có Chi nhánh đặt tại An Giang (ghi tắt là Chi nhánh Công ty D20, số F, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Từ khi thành lập Chi nhánh Công ty đến nay lần lượt do các ông, bà: H3, Trần Đình L1, Nguyễn Trường C làm Giám đốc; Công ty tuyển dụng và phân công Trần Thị Hồng D1 kế toán; từ ngày 16/5/2016 đến ngày Dung 17/5/2017 phụ trách kế toán; từ ngày 18/5/2017 đến ngày 13/02/2019, ông Nguyễn Trường C1 tục giữ chức vụ Giám đốc Chi nhánh, Trần Thị Hồng D2 chức vụ Phó Giám đốc Chi nhánh, Hà Thị Diễm K chức vụ Kế toán kiêm thủ quỹ.
Quá trình điều tra xác định:
Từ năm 2016 đến tháng 12/2018, Nguyễn Trường C2 công Trần Thị Hồng D3 tiền phí dịch vụ bảo vệ của khách hàng. Sau khi thu được tiền, D4 không nộp hoặc nộp không đầy đủ số tiền đã thu được vào quỹ tiền mặt của Chi nhánh Công ty D21 chiếm đoạt sử dụng cho mục đích cá nhân, tổng cộng là 854.878.616 đồng, trong đó chiếm đoạt từ ngày 07/6/2016 đến ngày 31/12/2017 là 510.633.950 đồng và từ ngày 01/01/2018 đến ngày 03/12/2018 là 344.244.666 đồng. Cụ thể:
* Từ ngày 07/6/2016 đến ngày 31/12/2017, Trần Thị Hồng D5 khi thu được tiền đã không nộp hoặc nộp không đầy đủ số tiền đã thu được vào quỹ tiền mặt của Chi nhánh Công ty D21 sử dụng cho mục đích cá nhân tổng cộng số tiền 510.633.950 đồng, cụ thể:
- Chi nhánh Công ty cổ phần T1, địa chỉ: Số A đường số D, Khu đô thị M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang: 52.800.000 đồng/5 phiếu thu.
- Công ty cổ phần C6 chỉ: số A, đường T, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang17.160.000 đồng/ 02 phiếu thu.
- Công ty TNHH A chỉ: Quốc lộ I, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang126.757.950 đồng/ 10 phiếu thu.
- Quỹ tín dụng nhân dân Mđịa chỉ: Số A, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang8.910.000 đồng/ 01 phiếu thu.
- Công ty cổ phần C7(Xí nghiệp C2địa chỉ: Số B, đường T, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang33.000.000 đồng/ 03 phiếu thu.
- Công ty Cổ phần C6 chỉ: Số A, đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang64.900.000 đồng/ 06 phiếu thu.
- Công ty Cổ phần D22 chỉ: Số B, đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang54.400.000 đồng/ 04 Phiếu thu.
- Ông Phan Văn B của các quán cà phê gồm: Quán C8, cà phê Scà phê Thoại Ngọc H1 phê Cổng Mặt Trời, cà phê Cổng Mặt Trời 5: Đã thanh toán phí dịch vụ cho Chi nhánh Công ty D23 được Trần Thị Hồng D6 nhận vào sổ thu chi của quán, nhưng D4 không nộp về Quỹ tiền mặt của Chi nhánh Công ty T2 đồng/ 05 phiếu thu, cụ thể:
- - Quán C8, địa chỉ: Quốc lộ I, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang22.186.000 đồng/ 02 phiếu thu.
- - Quán C9, địa chỉ: Quốc lộ I, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang3.200.000 đồng/ 01 phiếu thu (thu 11.2000.000 đồng, đã nộp 8.000.000 đồng).
- - Quán cà phê Cổng Mặt T2, địa chỉ: Số D, Q, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang33.600.000 đồng/ 03 phiếu thu.
- Công ty Cổ phần T3 nhánh C5địa chỉ: Số B, Quốc lộ I, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang(Công ty đã giải thể): 93.720.000 đồng/ 07 phiếu thu.
2
* Từ ngày 01/01/2018 đến ngày 03/12/2018, Trần Thị Hồng D5 khi thu được tiền của khách hàng đã không nộp hoặc nộp không đầy đủ số tiền đã thu được vào Quỹ tiền mặt của Chi nhánh Công ty D24 chiếm đoạt số tiền tổng cộng là 344.244.666 đồng gồm:
- Công ty Cổ phần T1 (địa chỉ: Số A đường số D, Khu đô thị M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang73.920.000 đồng/ 07 phiếu thu.
- Công ty Cổ phần C7(địa chỉ: Số A, đường T, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang35.640.000 đồng/ 04 phiếu thu.
- Công ty TNHH T4(địa chỉ: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang34.844.666 đồng/ 03 Phiếu thu.
- Công ty Cổ phần C7(Xí nghiệp C10, (địa chỉ: Số B, đường T, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang11.000.000 đồng/ 01 phiếu thu.
- Quỹ tín dụng nhân dân M(địa chỉ: Số A, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang35.640.000 đồng/ 04 phiếu thu.
- Công ty TNHH T5 chỉ: Số F, QL91, xã B, huyện C, tỉnh An Giang70.000.000 đồng/ 05 phiếu thu.
- Ông Phan Văn B1(chủ của các quán cà phê gồm: Quán C8, Cà phê SCà phê Thoại Ngọc HCà phê Cổng Mặt Trời, Cà phê Cổng Mặt Trời 5) đã thanh toán phí dịch vụ cho Chi nhánh Công ty D23 được Trần Thị Hồng D6 nhận vào sổ thu chi của quán, nhưng D4 không nộp về công ty tổng cộng 83.200.000 đồng/ 08 phiếu thu, cụ thể:
- - Quán Cà phê Cổng Mặt Trời, địa chỉ: Số D, Quốc lộ I, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang11.200.000 đồng/ 01 phiếu thu.
- - Quán C8, địa chỉ: Quốc lộ I, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang33.600.000 đồng/ 03 phiếu thu.
- - Quán Cà phê Thoại Ngọc H2, địa chỉ: Số G, T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang22.400.000 đồng/ 02 phiếu thu.
- - Quán C9, địa chỉ: Quốc lộ I, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang16.000.000 đồng/ 02 phiếu thu.
3
Ngày 19/8/2023, Trần Thị Hồng D7 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Akhởi tố điều tra về tội “Tham ô tài sản”.
* Căn cứ Kết luận giám định số 113/KL-KTHS(TL-GT) ngày 16/8/2023 của Phòng K1Công an tỉnh Akết luận:
- Chữ ký và chữ viết họ tên Trần Thị Hồng D8 tài liệu cần giám định (40 phiếu chi và 01 sổ theo dõi thanh toán chi phí) so với chữ ký và chữ viết của Trần Thị Hồng D8 tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký ghi tên “Dtại “trang 28”, “trang 29", "trang 33", "trang 39", “trang 51” và “trang 54” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của Trần Thị Hồng D8 tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký ra. (Bút lục số: 77)
* Căn cứ Kết luận giám định số 802/KL-KTHS(TL-GT) ngày 05/7/2024 của Phòng K1Công an tỉnh Akết luận:
Các chữ ký ghi “Dung”, “H. D“Hồng Dung” và “Trần Thị Hồng D8 tài liệu cần giám định (Ký hiệu từ A1 đến A25) so với chữ ký của Trần Thị Hồng D8 tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M1 đến M5) do cùng 1 người ký ra. (Bút lục số: 82)
* Lời khai người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Đình L1(Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc là Đại diện theo pháp luật Công ty Cổ phần D20), Nguyễn Trường C (Giám đốc Chi nhánh Công ty Cổ phần T1 - Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần D20), trình bày:
Từ năm 2016 đến cuối năm 2018, C3 phân công và ký giấy giới thiệu cho D9 thu tiền khách hàng. Ngoài ra, từ tháng 05/2017 đến tháng 04/2018, C đã ủy quyền cho D(lúc này là Phó Giám đốc) quản lý, điều hành mọi hoạt động của Chi nhánh Công ty T1, việc D10 ký Giấy giới thiệu đi thu tiền của Khách hàng là đúng theo ủy quyền. Các Báo cáo thu, chi của Chi nhánh do Trần Thị Hồng D11 trách và thực hiện nên C4 biết việc Dbáo cáo không đúng số tiền thu phí dịch vụ về Công ty, không biết việc D12 đoạt tiền thu phí dịch vụ bảo vệ của Chi nhánh Công ty. Yêu cầu D13 trả lại số tiền 854.878.616 đồng mà Dđã thu của khách hàng nhưng không nộp về cho Công ty. Riêng số tiền 289.240.000 đồng do không có chứng từ xác định việc D4 thu tiền của khách hàng nên Công ty không yêu cầu D14 hoàn trả số tiền này.
4
- Hà Thị Diễm K1(Thủ quỹ), trình bày: Được phân công nhiệm vụ thủ quỹ của Chi nhánh Công ty D25 hiện công nợ của Chi nhánh Công ty T6 thường đã chủ động báo cáo cho Giám đốc Chi nhánh, Ktrực tiếp quản lý phiếu thu tiền khách hàng, chỉ ghi nhận Phiếu thu tiền khi Dnộp tiền và cho ký nhận, không biết việc Dthu tiền dịch vụ của khách hàng nhưng không nộp về Chi nhánh Công ty.
- Đại diện Chi nhánh Công ty Cổ phần T1, Công ty Cổ phần C7 AQuỹ tín dụng nhân dân M, Công ty cổ phần C7 (Xí nghiệp C11, Công ty cổ phần D26, D27 T&D, Công ty TNHH T7, Công ty Cổ phần T3, Công ty TNHH T8 ông Phan Văn B1 (chuỗi quán cà phê): trình bày phù hợp với nội dung vụ án. Khi thanh toán tiền dịch vụ cho Chi nhánh Công ty D20, có cho ký nhận vào sổ sách, chứng từ và đã đối chiếu, xác nhận không còn nợ.
Trước Cơ quan điều tra, bị can Trần Thị Hồng D15 nhận: Dđã thu tiền dịch vụ bảo vệ của khách hàng với tổng số tiền 854.878.616 đồng (trong đó thu trước ngày 01/01/2018 là 510.633.950 đồng, thu sau ngày 01/01/2018 là 344.244.666 đồng), nhưng không nộp vào sổ quỹ tiền mặt của Chi nhánh Công ty D28 chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân. Để không bị phát hiện, D4 không kê khai các khoản tiền thu được này vào Báo cáo thu chi hàng ngày, báo cáo tháng, năm của Chi nhánh để báo cáo về Công ty mà ghi nhận vào công nợ phải thu của khách hàng.
Quá trình điều tra vụ án, D4 nộp số tiền 182.000.0000 đồng để khắc phục hậu quả.
Ngoài ra, D15 trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, thời điểm Dphụ trách kế toán, có một số khách hàng không yêu cầu xuất hóa đơn giá trị gia tăng, Chi nhánh Công ty vẫn ghi nhận doanh số và kết quả kinh doanh vào báo cáo nội bộ gửi về Công ty nhưng không kê khai, ghi nhận vào sổ sách kế toán đối với phần doanh thu này. Đến cuối năm 2018, Cơ quan thuế phạt truy thu tiền thuế số tiền 80.234.530 đồng và thưởng riêng 25.000.000 đồng, còn tồn tại quỹ tiền mặt của Chi nhánh Công ty số tiền 766.999.744 đồng vẫn chưa chia, Dđề nghị Công ty D1chi lại cho Dđể D16 lại phần đã chiếm đoạt của Chi nhánh Công ty. Tuy nhiên, đại diện Công ty D20 không thống nhất lời khai của D17 số tiền này.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định:
Căn cứ điểm c, điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thị Hồng D 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản”.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
5
Ngày 14/11/2024, bị cáo D18 đơn kháng cáo xin hưởng án treo, xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Phần xét hỏi:
- - Bị cáo và người bào chữa vắng mặt.
- Phần tranh luận
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, HĐXX, thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật. Kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng D nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.
+ Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị Hồng D 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản” là đúng người, đúng tội, tương xứng với mức độ hành vi mà bị cáo thực hiện. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đưa ra một số tình tiết mới để làm căn cứ cho kháng cáo của bị cáo, tuy nhiên các tình tiết này không đủ để thay đổi tính chất, mức độ hành vi của bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Phần bị cáo nói lời sau cùng: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Trần Thị Hồng D thực hiện việc kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về phần tội danh và chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
[2.1] Từ năm 2016 đến tháng 12 năm 2018, Nguyễn Trường C5 Giám đốc Chi nhánh Công ty T1 có phân công Trần Thị Hồng D19 kế toán trưởng, Phó Giám đốc Chi nhánh Công ty D29 giao nhiệm vụ thu tiền của khách hàng, lợi dụng sự tin tưởng tín nhiệm của lãnh đạo Tổng Công ty, bị cáo D4 thu tiền dịch vụ bảo vệ của khách hàng với tổng số tiền 854.878.616 đồng; trong đó thu trước ngày 01/01/2018 là 510.633.950 đồng; thu sau ngày 01/01/2018 là 344.244.666 đồng, nhưng không nộp vào sổ quỹ tiền mặt của Chi nhánh Công ty D28 chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân. Để không bị phát hiện, D4 không kê khai các khoản tiền thu được này vào Báo cáo thu chi hàng ngày, báo cáo tháng, năm của Chi nhánh để báo cáo về Công ty mà ghi nhận vào công nợ phải thu của khách hàng.
[2.2] Bị cáo Trần Thị Hồng D nhận thức được việc không nộp vào sổ quỹ tiền mặt của Chi nhánh Công ty D28 chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo vẫn thực hiện hành vi của mình.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Bị cáo đã lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao, sau khi thu tiền xong, đã cố ý không nộp tiền vào Công ty nhằm chiếm đoạt tài sản của Chi nhánh Công ty T1.
[2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị Hồng D phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị Hồng D
[3.1] Xét thấy, khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp bồi thường khắc phục 182.000.000đ, bị cáo có nhân thân tốt có cha là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng; đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ đó xử phạt bị cáo Trần Thị Hồng D 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản” là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.
[3.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Hồng D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình quá khó khăn đang chăm sóc mẹ già gần 80 tuổi, 02 con thơ còn đang độ tuổi ăn học. Bị cáo đang ở nhà thuê, không có việc làm suốt 06 năm nay vì sức khỏe không tốt do nhức đầu liên tục có chịu chứng bị trầm cảm; chồng bị cáo làm việc công chức lương thấp. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi vụ án được xét xử sơ thẩm, bị cáo đã cố gắng khắc phục hậu quả hết số tiền còn lại là 162.244.666 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu, hai trăm bốn mươi bốn ngàn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng) cho bị hại. Gia đình bị cáo có 02 bác ruột là Liệt sĩ (Tình tiết này chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm vì gia đình bị cáo vừa tìm được thông tin sau khi vụ án được xét xử sơ thẩm). Tuy nhiên các tình tiết này không làm thay đổi tính chất, mức độ hành vi của bị cáo thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của là có căn cứ chấp nhận.
[4]Về án phí hình sự phúc thẩm: Vì không được chấp nhận kháng cáo, bị cáo Trần Thị Hồng D phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng D. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang:
Căn cứ điểm c, điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Hồng D 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản”.
Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Thị Hồng D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
8
N1
9
Bản án số 124/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự (tham ô tài sản)
- Số bản án: 124/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Hồng D. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
