Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 124/2025/HS-PT

Ngày: 20-6-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ.
  • Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng.
  • Ông Lê Khắc Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 82/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thị C. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Thị C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị C; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 30 tháng 8 năm 1989; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Văn Đ, sinh năm: 1959 (Còn sống); Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1963 (Còn sống); Gia đình có 04 chị, em. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Chồng tên: Nguyễn Ngọc C1, sinh năm: 1984; Bị cáo có 02 người con sinh năm 2015 và sinh năm 2017; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Trong vụ án còn có bị hại Thiệu Thị Kiều L không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 12 tháng 3 năm 2024, trong lúc đang ở vựa gạo thuộc huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Trần Thị C nhờ anh Phạm Văn H chở bị cáo C đến Trạm xăng thuộc ấp C, xã Đ, huyện T, nơi chồng bị cáo C là anh Nguyễn Ngọc C1 đang nhận phân bón của công ty H1. Mục đích C đến để nhờ nhân viên của công ty H1 liên hệ với anh Lê Thanh T1 cũng là nhân viên của công ty H1 giải quyết sự việc anh T1 tư vấn kỹ thuật trồng sầu riêng cho cha mẹ bị cáo C nhưng không hiệu quả, làm cây rụng lá, rụng trái và chết nhưng anh T1 cố tình lẫn tránh.

Khi đến nơi, bị cáo C gặp bị hại Thiệu Thị Kiều L và anh Lê Đức C2 cùng là nhân viên của công ty H1. Bị cáo C nhờ bị hại L liên lạc bằng điện thoại với anh Lê Thanh T1 để C gặp, trao đổi về việc cố tình lẫn tránh nhưng chị L không đồng ý liên lạc với anh T1, vì cho rằng đây là việc riêng của gia đình bị cáo C và anh T1. Bị cáo C lại cho rằng bị hại L bao che cho anh T1, bị cáo C tức giận lấy mũ bảo hiểm đang đội trên đầu, cầm trên tay phải, đứng đối diện đánh nhiều cái theo hướng từ trên xuống, quơ ngang qua lại trúng vào người chị L gây thương tích, mũ bảo biểm rơi xuống đường bị vỡ. Bị cáo C tiếp tục dùng chân đạp vào bụng, dùng tay nắm tóc làm bị hại L ngã xuống đường rồi tiếp tục dùng tay đánh nhiều cái vào người bị hại L. Được nhiều người tại đó can ngăn nên bị cáo C dừng lại. Hậu quả bị hại L bị thương tích, được đưa đến bệnh viện Đ1 điều trị. Ngày 13 tháng 3 năm 2024 bị hại L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngoài ra, anh Lê Đức C2 khai trong lúc chị L bị C đánh, bản thân anh cũng bị một người thanh niên lạ mặt (không xác định được nhân thân, lai lịch) dùng tay đánh, dùng chân đạp vào người gây thương tích ở vùng đầu, ngực, bụng, chân. Ngày 13 tháng 3 năm 2024 anh C2 có đơn yêu cầu khởi tố, xử lý đối với người gây thương tích cho anh.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 237/KLTTCT-TTPYĐT ngày 23 tháng 4 năm 2024 và công văn số 614/CV-TTPY ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận như sau: Sẹo vết thương phần mềm cổ tay trái, kích thước nhỏ; Sẹo vết thương phần mềm đốt giữa ngón II bàn tay trái, kích thước nhỏ. Chấn thương phần mềm vùng chẩm, thái dương phải, mắt trái, má trái, hai gối hiện không thấy thương tích không cho tỷ lệ phần trăm. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm cơ thể của Thiệu Thị Kiều L tại thời điểm giám định là 02%. Cơ chế hình thành vết thương do ngoại lực tác động. Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 238/KLTTCT-TTPYĐT ngày 23 tháng 4 năm 2024 và công văn số 614/CV-TTPY ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận đối với thương tích của Lê Đức C2 như sau: Vết biến đổi sắc tố da vùng đỉnh trái; Chấn thương phần mềm ngực, mạn sườn trái, bụng, chân trái, chân phải hiện không còn dấu vết thương tích sau chấn thương không cho tỷ lệ phần trăm. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm cơ thể của Lê Đức C2 tại thời điểm giám định là 01%. Cơ chế hình thành vết thương do ngoại lực tác động. Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Về vật chứng, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 nón bảo hiểm màu xanh trắng có in chữ Viện thẩm mỹ H2, bị bễ thành nhiều mảnh, cân nặng 460 gram.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thiệu Thị Kiều L yêu cầu bị cáo Trần Thị C bồi thường 317.000 đồng chi phí điều trị thương tích, tiền thu nhập thực tế bị mất và tiền tổn thất tinh thần. Bị cáo C đã bồi thường được số tiền chi phí điều trị thương tích là 317.000 đồng; đối với tiền thu nhập thực tế bị mất và tổn thất tinh thần, bị cáo C đồng ý bồi thường nhưng do bị hại L không đưa ra số tiền cụ thể nên bị cáo sẽ thực hiện việc bồi thường khi có quyết định của Tòa án.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án đến nay, bị cáo Trần Thị C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2025/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đã quyết định:

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, bị cáo Trần Thị C có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị C bị cáo xin được giảm hình phạt hoặc được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Trần Thị C bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Trần Thị C kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo trình bày: Bị cáo là lao động chính trong gia đình và ngày 28/5/2025 bị cáo đã nộp số tiền bồi thường cho bị hại theo quyết định của bản án sơ thẩm là 25.945.000 đồng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; Nhưng bị cáo không đủ điều kiện được hưởng treo theo quy định. Do đó, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt, giảm hình phạt 03 tháng tù cho bị cáo C.

Bị cáo Trần Thị C không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Đây là vụ án “Cố ý gây thương tích” do bị cáo Trần Thị C thực hiện; Chỉ vì bị cáo C nhờ bị hại L liên lạc bằng điện thoại với anh Lê Thanh T1 để C gặp, trao đổi về việc cố tình lẫn tránh nhưng chị L không đồng ý liên lạc với anh T1, vì cho rằng đây là việc riêng của gia đình bị cáo C và anh T1. Bị cáo C lại cho rằng bị hại L bao che cho anh T1, bị cáo C tức giận lấy mũ bảo hiểm đang đội trên đầu, cầm trên tay phải, đứng đối diện đánh nhiều cái theo hướng từ trên xuống, quơ ngang qua lại trúng vào người chị L gây thương tích, mũ bảo biểm rơi xuống đường bị vỡ. Bị cáo C tiếp tục dùng chân đạp vào bụng, dùng tay nắm tóc làm bị hại L ngã xuống đường rồi tiếp tục dùng tay đánh nhiều cái vào người bị hại L. Được nhiều người tại đó can ngăn nên bị cáo C dừng lại. Hậu quả bị hại L bị thương tích, được đưa đến bệnh viện Đ1 điều trị. Gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% tại thời điểm giám định. Ngày 13 tháng 3 năm 2024 bị hại L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Trần Thị C là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ việc bị hại L không liên lạc bằng điện thoại với anh Lê Thanh T1 để C gặp mà bị cáo C đã dùng mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đánh và dùng chân đạp vào bụng, dùng tay nắm tóc làm bị hại L ngã xuống đường rồi tiếp tục dùng tay đánh nhiều cái vào người bị hại L và làm cho bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 02%, chứng tỏ việc hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; Nhưng bị cáo không đủ điều kiện được hưởng treo theo quy định. Do đó, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm về phần hình phạt, giảm hình phạt 03 tháng tù cho bị cáo C.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Toà án cấp sơ thẩm: Áp dụng Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Trần Thị C bồi thường cho bị hại Thiệu Thị Kiều L số tiền điều trị nội trú 2.115.000 đồng, tiền thuê phương tiện vô, ra bệnh viện 430.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 10 tháng lương cơ bản với số tiền 23.400.000 đồng, tổng cộng: 25.945.000 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Đến ngày 28/5/2025 bị cáo đã nộp số tiền bồi thường cho bị hại theo quyết định của bản án sơ thẩm là 25.945.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002652 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp nên bị hại L được nhận số tiền này.

[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Trần Thị C là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[6] Do kháng cáo của bị cáo Trần Thị C được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị C. Sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Thị C.

  2. Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt bị cáo Trần Thị C 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự:

    Buộc bị cáo Trần Thị C bồi thường cho bị hại Thiệu Thị Kiều L tổng cộng số tiền là 25.945.000 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Bị cáo đã nộp số tiền bồi thường cho bị hại là 25.945.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002652 ngày 28/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp nên bị hại L được nhận số tiền này.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Trần Thị C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tháp Mười (3);
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu VT, HSVA (5) (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Phú Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 124/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger