TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3 – 2025
“V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Duy Bảo;
- Ông Nguyễn Hồ Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 512/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm T, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. (Đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1986; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Bà Phạm Thị Q1, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Trọng Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 25 tháng 01 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Tuy nhiên vì hoàn cảnh gia đình nên năm 2022 anh Nguyễn Trọng Q đi xuất khẩu lao động tại L Nga và vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua mạng xã hội facebook, vì khoảng cách địa lý quá xa, không có nhiều thời gian dành cho nhau vì thế vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, xảy ra mâu thuẫn cãi vã, dần dần tình cảm vợ chồng rạn nứt, tuy đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Kể từ năm 2023 vợ chồng đã không liên lạc với nhau, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng Q.
Con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị và anh Q có 03 con chung là: Nguyễn Thị Phương U, sinh ngày 07/01/2012; Nguyễn Sinh H, sinh ngày 07/12/2013; Nguyễn Thị Thanh H1, sinh ngày 01/11/2018, nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được chăm sóc và nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Trọng Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trọng Q: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện, các tài liệu do nguyên đơn giao nộp cho bị đơn thông qua mẹ đẻ của bị đơn là bà Phạm Thị Q1.
Nội dung lời khai người làm chứng bà Phạm Thị Q1 trình bày:
Bà là mẹ đẻ của bị đơn anh Nguyễn Trọng Q, về quan hệ hôn nhân, con chung giữa chị L và anh Q đúng như chị L trình bày. Sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án và bản sao các tài liệu do nguyên đơn nộp cho Tòa án bà đã thông báo cho anh Q biết nội dung các văn bản đó thông qua nền tảng mạng xã hội nhưng anh Q không cho bà biết địa chỉ cụ thể của anh ấy do đó không có căn cứ để cung cấp cho Tòa án và anh Q cũng không trình bày ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để gửi về Việt Nam. Thông qua bà anh Q đề nghị Tòa án giao các con chung cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Q đang ở nước ngoài, khi nào trở về nước thì giao lại cho anh Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Q không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của cháu Nguyễn Thị Phương U, sinh ngày 07/01/2012 và cháu Nguyễn Sinh H, sinh ngày 07/12/2013:
Các cháu là con của mẹ L và bố Q. Nếu bố mẹ ly hôn các cháu đều có nguyện vọng được ở với bố Q, mong Tòa án chấp nhận cho nguyện vọng của các cháu.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự theo quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người làm chứng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 77 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn mặc dù được người thân thông báo nội dung và phạm vi khởi kiện của nguyên đơn nhưng không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng về việc mở phiên tòa cho bị đơn, vậy đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung: Xét thấy chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Trọng Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 25/01/2011 tại UBND xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thì đến năm 2022 anh Q đi xuất khẩu lao động ở L Nga vì khoảng cách địa lí quá xa, vợ chồng không có nhiều thời gan cho nhau nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn mặc dù đã biết việc nguyên đơn khởi kiện nhưng bị đơn không có văn bản gửi đến Tòa án để yêu cầu hòa giải đoàn từ đó cho thấy mâu thuẩn giữa nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn.
Con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 03 con chung là Nguyễn Thị Phương U, sinh ngày 07/01/2012; Nguyễn Sinh H, sinh ngày 07/12/2013 và Nguyễn Thị Thanh H1, sinh ngày 01/11/2018, trong đó cháu U và cháu H là người đã đủ 07 tuổi có nguyện vọng lựa chọn bị đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng. Thông qua bà Phạm Thị Q1 bị đơn đề nghị giao các con chung cho bị đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng, trong thời gian đang ở nước ngoài thì đề nghị Tòa án giao cho bà Q1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tuy nhiên bà Q2 không có ý kiến gì. Nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung thộc về nguyên đơn và bị đơn, hiện nay bị đơn đang sống và làm việc ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, đề nghị HĐXX giao 03 con chung cho chị
Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung; nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1986, có địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Văn bản số 554/QLXNC-Đ1 ngày 27/02/2025 của Phòng Q3 cho biết anh Nguyễn Trọng Q, sinh ngày 22/03/1986 đã xuất cảnh ngày 10/01/2023 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về việc mở các phiên họp và phiên tòa. Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, các đương sự còn lại đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về việc mở phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì phiên tòa.
[3] Nội dung vụ án: Đánh giá lời khai của nguyên đơn, người làm chứng và các tài liệu có tại hồ sơ Hội đồng xét xử có căn cứ để khẳng định:
[3.1]. Quan hệ hôn nhân:
Tại thời điểm kết hôn nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Nguyễn Trọng Q đủ điều kiện kết hôn theo luật định, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 25/01/2011, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Năm 2023 anh Q xuất cảnh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam từ đó giữa chị L và anh Q phát sinh mâu thuẫn dẫn đến không quan tâm lẫn nhau, mâu thuẩn giữa hai người trở nên trầm trọng, cho thấy nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm vào khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Nay, nguyên đơn không còn tình cảm với bị đơn, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Trọng Q theo quy định
tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
[3.2]. Con chung: Cháu Nguyễn Thị Phương U, cháu Nguyễn Sinh H và cháu Nguyễn Thị Thanh H1 là con chung của nguyên đơn, nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung thuộc về nguyên đơn và bị đơn. Mặc dù nguyện vọng của các cháu U và H (đủ 07 tuổi) lựa chọn bị đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng nhưng hiện nay bị đơn đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, không rõ địa chỉ, nguyên đơn đang sinh sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam có địa chỉ rõ ràng. Căn cứ vào tình hình thực tế, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giao các con chung cho nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
[3.3] Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu nghĩa vụ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 19; các Điều 51, 56, 58, 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 228; Điều 229; Điều 147 và Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L được ly hôn bị đơn anh Nguyễn Trọng Q.
- Con chung: Giao các con chung gồm Nguyễn Thị Phương U, sinh ngày 07/01/2012; Nguyễn Sinh H, sinh ngày 07/12/2013 và Nguyễn Thị Thanh H1, sinh ngày 01/11/2018 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
Anh Nguyễn Trọng Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom con chung để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án dân sự độc lập khác.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí: Buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông Lý Việt B đã nộp thay theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010126 ngày 11/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lam |
Bản án số 124/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 124/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
