|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 124/2025/HNGĐ-ST Ngày 19-6-2025 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Ông Vũ Minh Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kil – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1994 (xin vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1992 (vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 02 năm 2025 nguyên đơn bà Trần Thị M trình bày: Vào năm 2020 bà và ông Lê Văn L tự nguyện chung sống với nhau đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng diễn ra bình thường. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cự cãi, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến ly thân từ tháng 6 năm 2024 đến nay. Cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung vợ chồng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn L. Trong quá trình chung sống bà và ông L có một người con chung tên Lê Phúc T, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2021, con chung do ông L đang trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thoả thuận, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lê Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông L vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị M. Cho bà M ly hôn với ông Lê Văn L. Không chấp nhận yêu cầu của bà M về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung; giao con chung cho ông Lê Văn L trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Lê Văn L, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trần Thị M là nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Trần Thị M. Ông Lê Văn L là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Lê Văn L.
[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị M và ông Lê Văn L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 01/2020 ngày 02 tháng 01 năm 2020. Do đó, hôn nhân của bà Trần Thị M với ông Lê Văn L là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà M yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Lê Văn L. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông Lê Văn L nhiều lần để tham gia hoà giải và xét xử nhưng ông L vắng mặt không tham gia hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị M. Bà M cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, vợ chồng không còn chung sống từ tháng 6 năm 2024 đến nay. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Thị M với ông Lê Văn L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị M về việc yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn L.
[4] Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà Trần Thị M với ông Lê Văn L có một người con chung tên Lê Phúc T, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2021, con chung do ông L đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy, từ khi bà M và ông L không còn chung sống (tháng 6 năm 2024) đến nay con chung do ông L trực tiếp nuôi dưỡng, ông L đã nuôi dưỡng con chung ổn định. Để đảm bảo sự ổn định và sự phát triển của con chung nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Lê Phúc T, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2021 cho ông Lê Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Trần Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, nợ chung bà Trần Thị M, ông Lê Văn L không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trần Thị M phải chịu 300.000đ, bà T1 đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí. Ông Lê Văn L có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị M và ông Lê Văn L.
- Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Lê Phúc T, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2021 cho ông Lê Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Trần Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu tiền số 0003782 ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; bà Trân Thị M đã nộp đủ án phí.
Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều |
Bản án số 124/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 124/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: : Bà Trần Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Lê Văn L, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung
