Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 50/2025/TLST-HNGĐ ngày 18/02/2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/03/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Trịnh Thị Thu H, sinh năm 1984 (có mặt)

HKTT: Tập thể Z179, xã T, huyện T, Hà Nội

Chỗ ở: Số B, thôn C, xã C, huyện T, Hà Nội

Bị đơn: anh Đỗ Hữu T, sinh năm 1982 (có mặt)

HKTT: Tập thể Z179, xã T, huyện T, Hà Nội

Chỗ ở: Nhà T8 12B, Khu C, Tập thể Z179, xã T, huyện T, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, chị Trịnh Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 25/03/2008 tại UBND xã T, huyện T, Hà Nội. Sau khi kết hôn, chị H và anh T chung sống tại nhà chồng ở tập thể Z179, xã T, huyện T, Hà Nội. Anh chị chung sống hòa thuận đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, không tin tưởng lẫn nhau. Gia đình anh chị không phải gia đình khá giả, nhưng anh T chi tiêu không biết chừng mực, thường xuyên mua đồ hoang phí, không bàn bạc gì với chị H, khi chị H nhắc nhở thì anh T bảo chị H không có quyền gì can thiệp. Anh T còn vay nợ để chi tiêu cá nhân chứ không phải chi tiêu sinh hoạt gia đình, khiến cho chủ nợ gọi điện cho chị H, đòi nợ chị H nhiều lần. Thời gian sinh hoạt của anh T ảnh hưởng đến gia đình, thường xuyên đi sớm về khuya, một phần nguyên nhân là do anh T bị bệnh trầm cảm, có uống thuốc nhưng không cải thiện được. Anh T không đánh vợ, con nhưng có to tiếng, ảnh hưởng đến tinh thần của các con. Đến tháng 10/2024, chị H và các con không chịu được về nhà bố mẹ đẻ ở thôn C, xã C, huyện T, Hà Nội sinh sống. Trước khi đi, chị H có thông báo với gia đình bên nội, họp mặt cả nhà và báo mẹ chồng, em chồng và anh T. Ngày đầu tiên chị H đưa các con về, anh T đã gọi điện đe dọa sẽ đánh chị H. Từ khi sống ly thân, chị H và anh T chỉ liên lạc liên quan đến con cái, còn về chuyện mâu thuẫn vợ chồng thì anh chị không nói chuyện được với nhau. Anh T cũng không đưa sinh hoạt phí cho chị H. Tết âm lịch vừa qua, anh T đã đến họ hàng bên nhà chị H và có những lời lẽ xúc phạm chị H. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị Trịnh Thị Thu H và anh Đỗ Hữu T có 3 con chung là Đỗ Trịnh Minh N, sinh ngày 07/07/2009; Đỗ Trịnh Minh H1, sinh ngày 20/05/2014 và Đỗ Trịnh Minh T1, sinh ngày 20/12/2017. Ly hôn, chị H xin được nuôi cả ba con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hiện chị H và các con đang ở nhà bố mẹ đẻ chị ở thôn C, xã C, huyện T, Hà Nội. Bố mẹ chị H đồng ý cho chị và các con ở tại đây. Chị H đang làm nhân viên của Công ty TNHH P, thu nhập khoảng 9.000.000 đồng/tháng, đủ để chi tiêu sinh hoạt gia đình và lo cho các con.

Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn, anh Đỗ Hữu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác nhận chị H trình bày về quá trình vợ chồng kết hôn, chung sống là đúng sự thật. Nhưng nguyên nhân mâu thuẫn thì chị H trình bày không đúng. Mâu thuẫn giữa anh chị là do anh T bị bệnh rối loạn trầm cảm, nên anh T thường mất ngủ và dậy sớm, ảnh hưởng đến giấc ngủ của vợ con. Chị H cho rằng anh T không chịu chữa bệnh nên vợ chồng có xích mích. Thực tế anh T vẫn đang điều trị bệnh theo bác sĩ của bệnh viện B. Căn bệnh này chỉ ảnh hưởng tới giấc ngủ và tâm trạng của anh T, còn anh T vẫn nhận thức, sinh hoạt bình thường, vẫn làm chủ hành vi. Khoảng tháng 11/2024, chị H muốn ra ở riêng nên anh T đã cọc tiền thuê nhà. Nhưng sau đó, không hiểu vì sao, chị H đã mang cả ba con của anh chị về nhà ông bà ngoại ở, anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Quá trình sống ly thân, gia đình chị H đã cư xử không đúng mực với anh T. Hằng ngày, anh T vẫn đón con từ trường về nhà bố mẹ vợ, nhưng ông bà không nói chuyện với anh, không cho anh vào nhà. Chị H cũng không quan tâm đến anh T và gia đình bên nội. Vợ chồng anh vẫn liên hệ với nhau nhưng chủ yếu là vấn đề con cái. Anh T cũng có liên hệ với chị H để thuyết phục chị H quay về chung sống, anh cũng nói rõ ràng với chị H rằng nếu ly hôn thì anh đồng ý, nhưng phải giao con cho anh nuôi. Tuy nhiên, nay chị H xin ly hôn thì anh không đồng ý nữa. Gia đình, bạn bè đều biết mâu thuẫn giữa anh chị và khuyên bảo nhưng chị H vẫn cương quyết ly hôn. Về việc chị H cho rằng anh T vay nợ cá nhân là đúng nhưng anh T vay cá nhân và tự anh chịu trách nhiệm, không ảnh hưởng gì đến vợ con. Về việc anh to tiếng trong gia đình chỉ là trong lúc nóng giận, anh chưa từng đánh mắng vợ con bao giờ. Việc chị H bỏ về nhà ngoại thì anh T hoàn toàn không biết, chỉ có mẹ anh và em anh biết. Khi biết, anh T có gọi điện cho chị H để hỏi về việc tự ý dẫn con đi, trong lúc nóng giận, có thể anh đã có lời lẽ không đúng mực, nhưng đó chỉ là mâu thuẫn nhỏ và chuyện bình thường trong cuộc sống vợ chồng. Cả việc ngày tết anh T có những lời nói như vậy cũng chỉ là trong lúc nóng giận.

Quá trình giải quyết vụ án, anh T có gặp chị H để nói chuyện và khắc phục mâu thuẫn, để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị H không hợp tác. Anh T đã cố gắng hết sức để níu kéo chị H và không còn biện pháp nào để thuyết phục chị H nên anh không muốn níu kéo gì nữa. Mặc dù còn tình cảm nhưng anh T không muốn liên quan và sẽ không liên hệ gì đến chị H và bên nhà chị H. Theo anh, anh chị có thể tiếp tục sống ly thân như hiện nay, chứ anh không đồng ý ly hôn vì anh muốn giữ gia đình.

Về con chung: Anh chị có 3 con chung như chị H trình bày. Cả ba con chung đều đang ở với chị H ở nhà ông bà ngoại tại thôn C, xã C, huyện T, Hà Nội. Trường hợp ly hôn, anh T xin nuôi cả ba con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Trước đây, anh T làm nhân viên bán hàng cho cửa hàng Inox 304 của Công ty TNHH T2, tại địa chỉ: Số A, đường G, phường T, quận H, Hà Nội. Từ ngày 5/3/2025, anh T đã nghỉ việc và làm tự do, chạy xe ôm công nghệ, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng. Nếu được nuôi con, anh T và các con sẽ ở nhà bố mẹ anh ở tập thể Z, xã T, huyện T, Hà Nội. Anh đã biết nguyện vọng của các con là muốn ở với mẹ, nhưng anh vẫn xin nuôi con. Trường hợp Tòa án giao con cho anh T nuôi mà các cháu phản đối thì các cháu có thể ở với mẹ, nhưng trách nhiệm anh là người làm cha thì anh vẫn xin nuôi con.

Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Do anh T cũng muốn nuôi con nên chị H đồng ý giao 01 con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; anh T đồng ý nuôi 01 con theo phán quyết của Tòa án, giao 02 con cho chị H nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì có quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử điều khiển phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Thu H, chị H được ly hôn anh Đỗ Hữu T;

Về con chung: Chị Trịnh Thị Thu H và anh Đỗ Hữu T có 3 con chung là Đỗ Trịnh Minh N, sinh ngày 07/07/2009; Đỗ Trịnh Minh H1, sinh ngày 20/05/2014 và Đỗ Trịnh Minh T1, sinh ngày 20/12/2017. Giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu H1, cháu T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nhà đất, công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị H phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các chứng cứ và tài liệu do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật: Chị Trịnh Thị Thu H đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Đỗ Hữu T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Đỗ Hữu T có đăng ký thường trú tại xã T, huyện T, Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thu H và anh Đỗ Hữu T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 25/03/2008 tại UBND xã T, huyện T, Hà Nội. Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, khoảng đầu năm 2024 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong việc chi tiêu tài chính, vay nợ cá nhân và giờ giấc sinh hoạt của mỗi người không phù hợp, ảnh hưởng đến nhau. Anh T đã có những lời lẽ xúc phạm đến chị H. Anh T cũng cho rằng chị H và gia đình chị H có thái độ cư xử không đúng với anh. Từ tháng 10/2024, chị H và các con đã về nhà bố mẹ đẻ ở thôn C, xã C, huyện T, Hà Nội sinh sống. Từ khi sống ly thân, chị H và anh T chỉ liên lạc liên quan đến con cái. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn với anh T. Anh T không đồng ý ly hôn do muốn giữ gìn gia đình. Tuy nhiên, anh T không có biện pháp nào để thuyết phục chị H, chị H không còn tình cảm với anh thì anh cũng sẽ không liên hệ gì với chị H và gia đình chị H nữa. Tại các buổi làm việc, hòa giải và tại phiên tòa, anh T cũng xác nhận không thể khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, nhưng đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, anh và chị H có thể tiếp tục sống ly thân như hiện nay.

Hội đồng xét xử xét thấy, chị H và anh T mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh T.

2.2. Về con chung: Chị Trịnh Thị Thu H và anh Đỗ Hữu T có 03 chung là Đỗ Trịnh Minh N, sinh ngày 07/07/2009; Đỗ Trịnh Minh H1, sinh ngày 20/05/2014 và Đỗ Trịnh Minh T1, sinh ngày 20/12/2017.

Ly hôn, chị H đề nghị giao cả ba con chung cho chị nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, chị H đồng ý giao 01 con chung cho anh T nuôi dưỡng. Hiện nay, chị và các con đang ở nhà bố mẹ đẻ của chị H là ông Trịnh Quốc Đ, bà Đinh Thị H2 ở thôn C, xã C, huyện T, Hà Nội. Ông Đ, bà H2 đồng ý cho chị và các con ở tại đây. Chị H hiện đang làm nhân viên của Công ty TNHH P, thu nhập khoảng 9.000.000 đồng/tháng. Chị H đã có xác nhận lương của Công ty.

Anh T cũng có nguyện vọng nuôi cả ba con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, anh T đồng ý giao hai con cho chị H nuôi, anh xin nuôi 01 cháu, tùy theo phán quyết của Tòa án. Nếu được nuôi con, anh và các con sẽ ở nhà bố mẹ đẻ anh T tại tập thể Z179, xã T, huyện T, Hà Nội. Trường hợp Tòa án giao con cho anh nuôi mà các cháu phản đối thì các cháu có thể ở với chị H. Anh T đang làm tự do, chạy xe ôm công nghệ, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng. Căn cứ các tài liệu anh T giao nộp, thu nhập thực tế của anh T theo ứng dụng Grap là khoảng 9.000.000 đồng/tháng; theo ứng dụng Ahamove, anh T mới chỉ giao nộp được thu nhập 01 tuần là 1.095.004 đồng.

Các con chung của anh chị là cháu N, cháu H1, cháu T1 đều đã trên 7 tuổi và có lời khai trong trường hợp bố mẹ ly hôn thì các cháu xin ở với mẹ. Các cháu đều đang ở cùng chị H tại nhà ông bà ngoại, không có bất tiện, ảnh hưởng gì trong sinh hoạt và học tập. Các cháu cũng có nguyện vọng được ở cùng nhau, không muốn các chị em mỗi người một nơi.

Trên cơ sở quy định của pháp luật, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, có xét đến nguyện vọng của anh chị, nguyện vọng của con chung và để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt cũng như tâm lý phát triển của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu N, cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục do chị H có thu nhập ổn định hơn anh T, các cháu N, cháu H1 đều là con gái nên giao cho mẹ nuôi sẽ thuận lợi hơn trong việc chăm sóc, giáo dục các cháu phát triển tâm sinh lý; giao cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Do các bên đều nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nên hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Anh T, chị H có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung, nhà đất, công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Trịnh Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị Thu H. Chị Trịnh Thị Thu H được ly hôn anh Đỗ Hữu T.

2. Về con chung: Anh chị có 03 chung là Đỗ Trịnh Minh N, sinh ngày 07/07/2009; Đỗ Trịnh Minh H1, sinh ngày 20/05/2014 và Đỗ Trịnh Minh T1, sinh ngày 20/12/2017. Ly hôn, giao cháu N, cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Anh T, chị H có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Trịnh Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 57601 ngày 18/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì. Chị H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 124/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger