|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2025/DS-PT Ngày: 19-6-2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 52/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 12/2025/QĐPT-DS ngày 17 tháng 3 năm 2025, Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 62/TB-TA ngày 07 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 35/2025/QĐPT-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ B, thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị P: Ông Lê Toàn T, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ B, thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn L - Luật sư thuộc Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.
- Bị đơn: Ông Lê Thuận H, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ B, thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Bùi Văn T1, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện H. Địa chỉ: Số C T, Thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc D.
- Bà Chu Thị Kim D1 – sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ B, thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, có mặt ông Lê Thuận H, ông Bùi Văn T1, ông Lê Văn L, bà Chu Thị Kim D1; vắng mặt đại diện UBND huyện H, ông Lê Toàn T và bà Lê Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Từ năm 1956, cụ Lê Văn M (cha của bà Lê Thị P) và cụ Lê Tùng C (cha của ông Lê Thuận H) từ ngoài quê Nghệ An vào thành lập làng tại tổ B, thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Hai cụ cùng với anh em cùng di cư khai phá đất, phần hai cụ được chia một thửa đất, làm lán trại ở chung. Đến năm 1960, thì hai cụ chia phần với nhau thửa đất, cụ Mạo nhận phần đất phía trước (bây giờ vị trí sát đường Q), cụ C nhận phần đất phía sau phần của cụ M. Hai cụ có thỏa thuận để chừa một con đường từ ngoài đường Q đi vào đất của cụ C. Con đường có bề ngang 3m, chiều sâu dọc theo hết phần đất của cụ M.
Đến năm 1963, cụ C chết, vợ của cụ C nhận thừa kế thửa đất phía sau. Đến năm 1985 thì chuyển nhượng cho ông Lê Thuận H.
Phần đất phía trước giáp đường quốc lộ 1A do cụ M sử dụng. Vào năm 1996, cụ M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2005, thì cụ M chết, các con của cụ M thống nhất giao toàn bộ thửa đất cho bà Lê Thị P nhận thừa kế. Đến năm 2007, bà Lê Thị P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924. Trong nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà P được cấp có cả con đường mà gia đình ông H và gia đình bà P đang cùng sử dụng.
Đến tháng 8 năm 2021, ông H trồng trụ bê tông, làm hàng rào và cổng trên con đường này. Gia đình bà P có ngăn cản vì lý do con đường này vẫn là đường đi chung. Hơn nữa, nó thuộc thửa đất thuộc quyền sử dụng của bà P.
Nguyên đơn bà Lê Thị P yêu cầu ông Lê Thuận H phải tháo dỡ tài sản trên đất gồm có 04 trụ bê tông, 03 trụ rào, 02 cánh cổng. Trả lại diện tích đất trên cho bà Lê Thị P.
* Ý kiến của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Xét nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và việc nguyên đơn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một phần diện tích đất tranh chấp. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn phần diện tích đất tranh chấp 84,6m². Đồng thời bị đơn phải tháo dỡ tài sản trên đất gồm có 04 trụ bê tông, 03 trụ rào, 02 cánh cổng. Đối với việc bị đơn yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn. Phía nguyên đơn không đồng ý vì phần đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha của bà Lê Thị P từ năm 1997. Bà Lê Thị P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua thủ tục nhận thừa kế. Phần đất được cấp không có sự thay đổi về vị trí, diện tích, thủ tục thừa kế đều đúng quy định pháp luật.
* Ý kiến của bị đơn ông Lê Thuận H:
Diện tích 84,6m² đất bà P tranh chấp là con đường được gia đình ông tạo lập từ năm 1956, có chiều rộng 4m chạy thẳng từ quốc lộ A vào nhà xưởng phía sau của gia đình ông (Nhà ở hiện tại của ông bây giờ). Để xe tải lớn ra vào vận chuyển hàng hoá tại nhà xưởng. Từ khi tạo lập con đường năm 1956 cho tới nay gia đình ông vẫn là người quản lý sử dụng. Rất nhiều lần, nhiều năm gia đình ông đã cải tạo tu bổ và nâng cấp con đường nên con đường mới cao đẹp như ngày hôm nay.
Năm 2014 nhà nước thu hồi diện tích 18,3m² một phần diện tích con đường để làm công trình mở rộng quốc lộ A. Ông Lê Thuận H chủ sử dụng là người trực tiếp kê khai và nhận tiền đền bù phần đất bị thu hồi.
Trên con đường mà gia đình ông tạo lập quản lý sử dụng từ năm 1956 tới nay, ông đã chôn 4 trụ bê tông, 3 trụ rào và làm 2 cánh cổng, đây là từ tài sản chung của vợ chồng (ông và bà Chu Thị Kim D1 tạo lập). Nay, bà P yêu cầu trả lại diện tích 84,6m² và yêu cầu tháo dỡ là không có căn cứ, ông không chấp nhận. Khi bà P khởi kiện ra Ủy ban nhân dân xã H thì ông mới biết phần đất tranh chấp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Lê Thị P. Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AH 389924.
* Ý kiến của luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ. Trong 84,6m² tranh chấp có 44m² đất nằm trong hành lang đường bộ chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Phần diện tích 40,6m² là cấp không đúng đối tượng vì con đường đã có từ mấy chục năm. Từ năm 1956, bà P và ông T là người được ủy quyền đều thừa nhận. Rất nhiều lời khai các nhân chứng xác định rõ con đường gia đình ông H sử dụng tại thời điểm năm 1956 là lối đi duy nhất từ nhà ông H ra Quốc lộ A. Con đường đã được ông H cải tạo nâng cấp rất nhiều lần nhưng bà P không có bất cứ ngăn chặn gì. Khi bà P xây nhà thì ông T đã trực tiếp đóng cọc sắt xác định ranh giới, hiện vẫn còn nguyên bằng chứng. Ủy ban nhân dân huyện H có Công văn số 1424 ngày 13 tháng 06 năm 2023 thừa nhận con đường là lối đi chung của hộ ông M1 và hộ ông C.
Việc Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 40,6 m² con đường là lối đi chung cho hộ ông M1 (bà P) là hoàn toàn sai. Con đường không phải của riêng ông M1 (bà P). Gia đình ông H đã sử dụng gần 60 năm, đã nhận bồi thường đền bù giải tỏa 18,2 m². Khi ông H nhận đền bù bà P thừa nhận cam kết không tranh chấp.
Ủy ban nhân dân huyện H có Công văn số 1424 ngày 13 tháng 06 năm 2023 thừa nhận con đường là lối đi chung của hộ ông M1 và hộ ông C. Nhưng lại cấp riêng cho hộ ông M1 là vi phạm pháp luật, là xâm phạm quyền lợi của hộ ông C, là nguyên nhân để dẫn đến sự tranh chấp xung đột; Ông T cho rằng năm 1960, ông C và ông M1 thống nhất giao lại cho hộ ông M1 quản lý, sử dụng là không đúng vì không có giấy tờ nào đề nói việc giao cho ông M1, chỉ là bịa đặt, không có căn cứ; Nếu giao cho hộ ông M1 thì hộ ông C đi lối nào để vào nhà; Việc cấp cho bà P diện tích con đường là lối đi chung ông M1 (ông H) không thừa nhận và không ký giáp ranh. Việc cấp như vậy là hoàn toàn sai. Chỉ khi bà P kiện tranh chấp ông H mới biết phần diện tích 40,6m² con đường lối đi chung cấp cho ông M1 (bà P). Ông H yêu cầu bác bỏ toàn bộ đơn khởi kiện của bà P và hủy bỏ sổ phần diện tích 40,6m² con đường lối đi chung là có căn cứ.
* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị Kim D1:
Bà là vợ ông Lê Thuận H, quá trình ông H tham gia tố tụng trong vụ án bà đều đi cùng và được chứng kiến, toàn bộ tài liệu chứng cứ trong vụ án bà cũng đã được tiếp cận thông qua chồng mình. Tại phiên tòa bà thống nhất với ý kiến trình bày và toàn bộ yêu cầu của ông Lê Thuận H.
* Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện H:
Về nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp thì Ủy ban đã cung cấp thông tin cho Tòa án, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ số 04 (Sau đây gọi tắt là thửa đất số 08) cho hộ ông Lê Văn M1 vào ngày 01 tháng 10 năm 1997 và sang tên cho bà Lê Thị P theo thủ tục thừa kế vào năm 2007 là đúng theo quy định pháp luật. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện H không đồng ý với việc bị đơn yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Lê Thị P.
Ngày 28 tháng 02 năm 2014, Ủy ban nhân dân huyện B Quyết định số 709/QĐ.UBND về việc thu hồi diện tích 18,2m² đất BHK của hộ ông Lê Thuận H tại xã H là không đúng đối tượng sử dụng đất. Do đó, theo kết quả xác minh thì đối tượng đúng được bồi thường phải là bà Lê Thị P.
Tuy nhiên, phần diện tích đất này giữa bà Lê Thị P và ông Lê Thuận H không phát sinh tranh chấp; Theo biên bản làm việc ngày 17 tháng 11 năm 2022 với Phòng T6 huyện thì bà P thống nhất không khiếu nại việc ông Lê Thuận H nhận tiền đền bù về đất đối với diện tích đất 18,2 m² nêu trên.
Đối với phần diện tích còn lại 44 m² thuộc một phần diện tích đất nằm trong hành lang đường bộ, tiếp giáp với thửa đất số 08, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng, quá trình xác minh nguồn gốc đất và quá trình sử dụng, quản lý đất và căn cứ quy định pháp luật cho thấy. Trường hợp không có tranh chấp thì phần đất này đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Lê Thị P.
* Ý kiến của người làm chứng ông Nguyễn Ngọc L1:
Ông là trưởng thôn Dân Phú, xã H, sinh sống liên tục tại đây từ năm 1954 đến nay từ khi còn nhỏ, phần đất tranh chấp giữa bà Lê Thị P với ông Lê Thuận H từ khi cụ Lê M, cụ Lê Tùng C còn sống thì phần đất này đã là con đường đi chung của gia đình cụ Lê M, cụ Lê Tùng C và ông Trần Văn C1 (đã chết). Ba gia đình sử dụng thửa đất trên làm đường đi chung từ năm 1960. Sau này ông Trần Văn C1 chết, gia đình công Cần đi nơi khác sinh sống, phần đất này chỉ còn gia đình ông M và ông D2 sử dụng làm lối đi chung. Sau khi cụ Lê Tùng C và cụ M chết thì phần con đường này chỉ còn gia đình ông Lê Thuận H sử dụng làm đường đi. Còn bà Lê Thị P xây nhà có chừa phần con đường này ra, cũng không sử dụng con đường này nữa vì nhà bà P ở mặt tiền đường quốc lộ nên đi thẳng ra đường quốc lộ. Khoảng năm 2021 – 2022 thì ông Lê Thuận H tự xây hàng rào, làm cổng đối với phần đất này. Khi đó giữa bà Lê Thị P với ông Lê Thuận H có xảy ra tranh chấp, bà P có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã H. Ông cũng có mặt trong ban hòa giải. Khi đó ủy ban xã đề nghị ông Lê Thuận H đình chỉ xây dựng, tuy nhiên không biết sau đó có ai cho phép hay không nhưng ông Lê Thuận H vẫn tiếp tục xây.
* Ý kiến của người làm chứng ông Lê Thanh T2:
Ông sinh sống tại thôn D, xã H liên tục từ khi sinh ra đến nay. Giai đoạn trước năm 1987 thì ông không rõ. Từ năm 1987, thì ông là trưởng ban kiểm soát hợp tác xã 1 của xã H, phụ trách khu vực thôn D, xã H. Từ năm 1989 đến 1999, thì ông làm trưởng thôn Dân Phú. Từ năm 1999 đến năm 2011, thì ông làm Phó chủ tịch xã H.
Giai đoạn từ năm 1987 trở đi, ông chỉ thấy phần đất tranh chấp là con đường xe bò nối thẳng từ đường Q vào nhà ông Lê Thuận H. Còn việc phần đất tranh chấp có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ai, thời gian nào cấp và có những ai cùng sử dụng phần đất này làm đường đi thì ông không rõ. Tại thời điểm năm 1997, thì phần đất nhà ông Lê Thuận H có giáp đường đất ở phía Bắc. Nhưng đây chỉ là con đường đất và khó đi. Cách đây khoảng 5 - 6 năm thì nhà nước đã làm thành đường nhựa.
* Người làm chứng ông Nguyễn Văn  trình bày:
Ông sinh sống tại thôn D, xã H liên tục từ năm 1954 đến nay. Đến năm 1980, ông lấy vợ gần nhà ông Lê Thuận H (cách nhà ông H 3 - 4 căn). Giai đoạn trước năm 1980, thì ông không rõ. Từ năm 1980, thì ông ở gần đó nên ông chứng kiến tận mắt. Ông được biết phần đất tranh chấp này là đất của hai anh em cụ C và cụ M (là cha ruột của ông Lê Thuận H và bà Lê Thị P).
Thời điểm cha của ông Lê Thuận H còn sống thì nhà của gia đình ông Lê Thuận H là căn nhà 3 gian bằng gỗ. Căn nhà này quay mặt ra đường Q, cả gia đình ông Lê Thuận H sử dụng phần đất này làm con đường đi từ quốc lộ A vào nhà. Trước kia, gia đình bà Lê Thị P cũng có sử dụng phần đất này làm đường, chỉ đến khi bà P xây quán cơm (khoảng 2 năm nay) thì không sử dụng làm đường nữa. Đến khoảng năm 2018 – 2019 thì nhà nước có làm con đường ở phía sau (giáp đất ông Lê Thuận H) thì gia đình ông Lê Thuận H mới bỏ căn nhà 3 gian đi và xây lại nhà mới. Nhà mới quay mặt về phía con đường mới mở và quay lưng về phía đường Q.
* Người làm chứng bà Trần Thị T3 trình bày:
Bà sinh sống tại thôn D, xã H liên tục từ khi sinh ra đến nay. Nhà bà ở phía sau nhà ông Lê Thuận H. Bà ở địa phương từ nhỏ nên biết phần đất này là của gia đình ông H. Một mình gia đình cha ông H sử dụng từ lâu. Ngoài phần đất tranh chấp ra thì không còn con đường nào khác đi từ quốc lộ A vào nhà. Bà không thấy gia đình bà P sử dụng phần đất này.
* Người làm chứng bà Đinh Thị Xuân M2 trình bày:
Bà sinh sống tại thôn D, xã H liên tục từ khi sinh ra đến nay. Nhà bà cách nhà ông Lê Thuận H khoảng 3 căn. Ở địa phương từ nhỏ nên bà biết, phần đất này là từ giai đoạn cha ông Lê Thuận H còn sống đến sau khi mất. Cả gia đình ông Lê Thuận H đều sử dụng phần đất làm con đường đi từ quốc lộ A vào nhà.
Khi đó căn nhà của gia đình ông Lê Thuận H nằm phía sau căn nhà bà Lê Thị P (dân gian gọi là lô 2), là căn nhà 3 gian và quay mặt về phía đường Q. Khi đó phần đất này là con đường duy nhất đi từ quốc lộ A vào nhà ông Lê Thuận H. Mãi sau này nhà nước mới làm con đường phía sau (bà không nhớ rõ thời gian). Gia đình ông Lê Thuận H làm căn nhà mới, nhà mới quay mặt về phía con đường mới mở và quay lưng về hướng quốc lộ A
* Người làm chứng ông Đặng Xuân T4 trình bày:
Ông sinh sống tại thôn D, xã H liên tục từ khi sinh ra đến nay. Ông có xe tải Ben, ông chuyên chở thuê vật liệu xây dựng cho khách hàng. Vào khoảng năm 2015, ông là người trực tiếp đổ đất đá từ mỏ đá Km14 (H) cho gia đình ông Lê Thuận H và lấy tiền từ ông Lê Thuận H. Số lượng khoảng 5 xe đất đá, sau khi đổ đất đá thì ông cũng là người bang đất đá ra cho ông Lê Thuận H. Vị trí ông đổ đất đá cho ông H là phần đất nối từ nhà ông H ra quốc lộ A. Thời gian đổ đất đá và bang đất đá làm khoảng 2 ngày. Trong thời gian ông làm thì không thấy có ai ra ngăn cản gì.
* Người làm chứng bà Đặng Thị Minh T5 trình bày:
Bà sinh sống tại thôn D, xã H liên tục từ khi sinh ra đến nay. Khoảng năm 2010, thì bà mở cửa hàng V tại thôn D, xã H. Vào khoảng năm 2015, bà có bán khoảng chục xe đất cho gia đình ông Lê Thuận H để đổ đất, nâng nền đất đối với phần đất nối từ nhà ông H ra quốc lộ A. Trước đó phần đất này gia đình ông Lê Thuận H dùng làm con đường đi từ quốc lộ A vào nhà. Tuy nhiên, phần đất này trũng thấp nên gia đình ông H mới mua đất của bà để nâng nền cho cao lên. Sau đó đến khoảng cách đây 5 năm thì gia đình ông Lê Thuận H mua của bà đá chẻ và mua thêm mấy xe đất nữa để xây kè bê tông 2 bên con đường để giữ phần đất này lại không bị trôi đi. Toàn bộ hai lần mua bán bà đều trực tiếp giao dịch với vợ chồng ông H, vợ chồng ông H trực tiếp thanh toán tiền cho bà.
Theo kết quả đo đạc ngày 08 tháng 8 năm2022, vị trí đất tranh chấp có diện tích 44,0m² (phần nằm trong hành lang bảo vệ đường bộ) và 40,6m² (phần không nằm trong hành lang bảo vệ đường bộ) tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 144; Điều 157; Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 579 Bộ luật dân sự 2015; Điều 170 và Điều 171 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P.
- [1.1] Buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 trả lại cho bà Lê Thị P diện tích tranh chấp 84,6 m² tại các điểm tọa độ từ mốc số 1, 2, 3, 4, 12, 13, 14, 15 về mốc số 1 theo Mảnh chỉnh lý thửa đất số 193, 194 tờ bản đồ số 96 (209 443-6-B) do Chi nhánh Văn phòng Đ lập ngày 08 tháng 8 năm 2022; Gồm: 40,6m² thuộc một phần thửa đất số 08, diện tích 480m², tờ bản đồ số 04 được Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924 ngày 11 tháng 4 năm 2007 cho bà Lê Thị P và diện tích còn lại 44 m² thuộc một phần diện tích đất nằm trong hành lang đường bộ, tiếp giáp với thửa đất số 08 diện tích 480 m², chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng, tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- [1.2] Buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên phần diện tích đất tranh chấp bao gồm có 04 trụ bê tông, 03 trụ rào, 02 cánh cổng, toàn bộ nền móng bê tông.
- [1.3] Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Lê Thuận H về việc yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AH389924 ngày 11 tháng 4 năm 2007 cho bà Lê Thị P đối với thửa đất số 08, tờ bản đồ số 04.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 12/11/2024, bị đơn ông Lê Thuận H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn ông Lê Thuận H xác định kháng cáo toàn bộ bản án theo hướng sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu của bị đơn hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Lê Thị P.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu không chấp nhận yêu cầu buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 trả lại cho bà Lê Thị P diện tích đất tranh chấp 84,6 m²; Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện H cấp cho bà Lê Thị P.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật. Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự, người làm chứng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, xác định diện tích đất tranh chấp 84,6 m² là lối đi chung được hình thành từ năm 1960 từ cụ Lê Tùng C và cụ Lê Văn M1 (Mạo) tự thỏa thuận với nhau để làm lối đi chung. Theo Công văn số 1424/UBND-TNMT ngày 13/6/2023 cũng xác định là lối đi chung của hộ cụ M1 và hộ cụ C từ năm 1960; những người sinh sống tại đây đều xác định diện tích đất tranh chấp là lối đi chung sử dụng từ năm 1960. Do đó, Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn diện tích tranh chấp 84,6 m² là không có căn cứ.
Về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924 do UBND huyện H cấp ngày 11/4/2007 cho bà Lê Thị P: như đã phân tích trên, lối đi chung diện tích 84,6m² có từ năm 1960. Tuy nhiên, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ Lê Văn M1 vào năm 1997 (bà Lê Thị P nhận thừa kế và được cấp Giấy chứng nhận vào năm 2007) thì không thể hiện lối đi này trong giấy chứng nhận là không đúng quy định. Do đó, cần hủy Giấy chứng nhận số AH 389924 và cấp lại cho bà Lê Thị P theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của ông Lê Thuận H là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Thuận H, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam theo hướng:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên phần diện tích đất tranh chấp để trả lại hiện trạng lối đi chung.
- - Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 trả lại cho bà Lê Thị P diện tích đất tranh chấp 84,6 m².
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924 do UBND huyện H cấp ngày 11/4/2007 cho bà Lê Thị P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, Luật sư, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Bị đơn ông Lê Thuận H kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện UBND huyện H đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do; ông Lê Toàn T và bà Lê Thị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Lê Thị P, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Bị đơn ông Lê Thuận H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm. Xét kháng cáo của ông H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Diện tích đất tranh chấp được xác định là 84,6m² (trong đó có 40,6 m² thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 04, diện tích 480m², được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 415285 ngày 01/10/1997 cho hộ ông Lê Văn M (bà Lê Thị P nhận thừa kế quyền sử dụng đất và được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924 ngày 11/4/2007); Diện tích còn lại 44m² nằm trong hành lang đường bộ, tiếp giáp với thửa đất số 08/480m², chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[4.2] Theo hiện trạng thực tế thì diện tích 84,6m² là lối đi từ đường Q vào nhà ông Lê Thuận H, có chiều rộng tiếp giáp đường QL1A là 3.24m; chiều rộng tiếp giáp nhà ông H là 3.21m; chiều dài cạnh tiếp giáp nhà bà P là 27.02m; chiều dài còn lại là 27.11m (theo Mảnh chỉnh lý thửa đất lập ngày 08/8/2022 và ngày 29/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ).
[4.3] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tranh chấp 84,6m²:
Theo Công văn số 1424/UBND-TNMT ngày 13/6/2023 của UBND huyện H cung cấp thông tin về nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp thể hiện: Diện tích đất tranh chấp 84,6m² là đất do cụ Lê Tùng C (cha ruột ông Lê Thuận H) và cụ Lê Văn M (cũng là cụ Lê Văn M1, cha ruột bà Lê Thị P) cùng khai hoang sử dụng. Sau đó, cụ C giao lại cho cụ M quản lý, sử dụng và thống nhất làm lối đi chung của hộ cụ M và hộ cụ C từ năm 1960. Từ năm 1960, hộ cụ M và hộ cụ C đều sử dụng diện tích 84,6m² làm lối đi ra Quốc lộ A. Năm 2005, cụ M chết để thừa kế quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị P, bà Lê Thị P tiếp tục quản lý, sử dụng làm lối đi ra Quốc lộ A. Đến năm 2021, ông Lê Thuận H xây cống, làm hàng rào không cho bà P đi nên xảy ra tranh chấp. Lối đi này chỉ phục vụ cho việc đi lại của hộ cụ C (hiện nay là ông Lê Thuận H) và hộ cụ M (hiện nay là bà Lê Thị P).
[4.4] Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà Lê Thị P, ông Lê Toàn T và ông Lê Thuận H đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp (84,6m²) là lối đi chung do cụ C và cụ M mở làm lối đi chung cho hai gia đình từ năm 1956 cho đến nay (thể hiện tại các Biên bản hòa giải ngày 06/01/2022, ngày 18/02/2022 tại UBND xã H, huyện H; tại Biên bản lấy lời khai ông T vào ngày 07/4/2022: tại Đơn trình bày và xác nhận của ông H vào ngày 18/3/2022 và tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 10/9/2024 và ngày 30/10/2024...) và tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự này vẫn xác định đây là lối đi chung được sử dụng từ thời cụ C và cụ M cho đến nay nhà ông H và nhà bà P đều sử dụng lối đi này vào nhà và ra đường Q và xem đây là lối đi chung của hai nhà. Hơn nữa, thì sát đất của bà P hiện nay còn tồn tại cây trụ sắt, theo ông T và ông H khai là do cụ M (cha bà P và ông T) trồng để xác định ranh giới lối đi chung cho cụ M và cụ C ra đường Q và thực tế hiện nay bà P xây nhà cũng đến cột sắt. Điều này là hoàn toàn phù hợp với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận vào ngày 29/4/2025. Trên đây là những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và thừa nhận thì thuộc trường hợp không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4.5] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có tiến hành lấy lời khai một số người làm chứng lớn tuổi, sinh sống lâu năm gần diện tích đất tranh chấp đều xác định diện tích đất tranh chấp là lối đi chung tồn tại từ trước đến nay. Điều này là phù hợp với nội dung Công văn 1424/UBND-TNMT của UBND huyện H và lời khai của ông H, ông T và bà P như đã nhận định ở trên.
[4.6] Về tài sản trên lối đi chung: Tại phiên tòa sơ thẩm các bên đều thừa nhận bị đơn đã tạo lập tài sản trên đất tranh chấp gồm có 04 trụ bê tông, 03 trụ rào, 02 cánh cổng và xây hoàn thành nền móng bê tông. Bị đơn cho rằng, mục đích xây dựng các tài sản trên là để phòng trộm cắp, đảm bảo an ninh vào ban đêm. Tuy nhiên, việc xây dựng không được phép của bà P cùng sử dụng lối đi chung, nên buộc bị đơn phải tháo dỡ 04 trụ bê tông, 03 trụ rào, 02 cánh cổng để trả lại hiện trạng lối đi chung. Riêng phần nền móng bê tông đổ mục đích phục vụ việc đi lại dễ dàng, sạch sẽ cho nên không nhất thiết phải buộc bị đơn tháo dỡ.
[5] Từ những căn cứ nêu trên có cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp là lối đi chung tồn tại từ năm 1960 cho đến nay. Điều này đã được các bên đương sự thừa nhận là hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người làm chứng, của UBND huyện H và hiện trạng sử dụng là lối đi chung. Hơn nữa, hiện nay còn tồn tại một cây trụ sắt do cụ M1 trồng để minh chứng xác lập lối đi chung đã có từ năm 1960.
[6] Khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp. Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung”. Như vậy, xác định lối đi chung có diện tích 86,4m² được hình thành từ thời cha ông H và cha bà P, các đương sự đã sử dụng lối đi này ổn định, lâu dài và tồn tại cho đến khi xảy ra tranh chấp là trên 60 năm nên các bên phải có nghĩa vụ tôn trọng và duy trì lối đi chung này.
[7] Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn diện tích đất lối đi chung 84,6 m² là không phù hợp với pháp luật.
[8] Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924 do UBND huyện H cấp ngày 11/4/2007 cho bà Lê Thị P. Xét thấy, diện tích đất tranh chấp 84,6 m² (trong đó có 40,6 m² thuộc một phần thửa đất số 08, tờ bản đồ số 04, diện tích 480 m² được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 415285 ngày 01/10/1997 cho hộ ông Lê Văn M (bà Lê Thị P nhận thừa kế quyền sử dụng đất và được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924 ngày 11/4/2007 cho bà P). Diện tích còn lại 44 m² nằm trong hành lang đường bộ, tiếp giáp với thửa đất số 08/480m², chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như đã nhận định ở trên, diện tích 84,6m² là lối đi chung được hình thành từ năm 1960 cho đến nay. Tuy nhiên, khi cấp giấy chứng nhận cho hộ cụ Lê Văn M vào năm 1997, có 40,6 m² đất thuộc lối đi chung là không đúng quy định, lẽ ra trong giấy chứng nhận phải thể hiện lối đi này. Hơn nữa, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ M do Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp thì không thể hiện có biên bản thỏa thuận về việc cụ C giao diện tích đất lối đi 84,6m² cho cụ M. Do đó, cần tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 415285 do UBND huyện H cấp ngày 01/10/1997 cho ông Lê Văn M và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/4/2007 cho bà Lê Thị P, thuộc thửa đất số 08, tờ số 04, tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, diện tích 480m² và cấp lại cho bà Lê Thị P theo hiện trạng sử dụng đất, đúng quy định của Luật đất đai.
[9] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của ông Lê Thuận H là có căn cứ chấp nhận một phần như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên phần diện tích đất tranh chấp (lối đi chung) bao gồm 04 trụ bê tông, 03 trụ rào, 02 cánh cổng để trả lại hiện trạng lối đi chung; Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 trả lại cho bà Lê Thị P diện tích đất 84,6m²; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông M và cho bà P.
[10] Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Nguyên đơn đã nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.800.000 đồng và chi phí đo đạc là 1.901.700 đồng. Tổng cộng 3.701.700 đồng.
Nay do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên buộc bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn ½ số tiền chi phí tố tụng là 1.851.000 đồng; nguyên đơn phải chịu ½ số tiền chi phí tố tụng là 1.851.000 đồng (nguyên đơn đã nộp đủ).
[11] Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Bị đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với số tiền 3.100.000 đồng. Bị đơn đã nộp đủ.
[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, tuy nhiên bị đơn là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
[13] Về án phí dân sự phúc thẩm: Tòa án phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm nên bị đơn không phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 và khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ:
- - Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1, 2, 4 Điều 91; Điều 92; Điều 93; Điều 94; Điều 95; Điều 97; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 148; Điều 157; Điều 262; Điều 264; Điều 266; Điều 267 và Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự;
- - Điều 170, Điều 171, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- - Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Luật Thi hành án dân sự.
- Tuyên xử:
- [3.1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P. Buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên phần diện tích đất lối đi chung 84,6m² bao gồm: 04 trụ bê tông, 03 trụ rào, 02 cánh cổng để trả lại hiện trạng lối đi chung 84,6m² tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (tại các điểm tọa độ từ mốc số 1, 2, 3, 4, 12, 13, 14, 15 về mốc số 1 theo Mảnh chỉnh lý thửa đất số 193, 194 tờ bản đồ số 96 (209 443-6-B) do Chi nhánh Văn phòng Đ lập ngày 08 tháng 8 năm 2022 và ngày 29/3/2024, kèm theo bản án).
- [3.2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P về việc buộc ông Lê Thuận H và bà Chu Thị Kim D1 phải trả lại cho bà Lê Thị P diện tích đất 84,6 m².
- [3.3] Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 415285 do UBND huyện H cấp ngày 01/10/1997 cho ông Lê Văn M và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389924 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 11/4/2007 cho bà Lê Thị P, thuộc thửa đất số 08, tờ số 04, diện tích 480m² tọa lạc tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận và cấp lại cho bà Lê Thị P theo hiện trạng sử dụng đất, đúng quy định của Luật đất đai.
- [4] Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Buộc ông Lê Thuận H phải hoàn trả cho bà Lê Thị P số tiền 1.851.000 đồng (Một triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn đồng) chi phí tố tụng. Bà Lê Thị P phải nộp 1.851.000 đồng (Một triệu tám trăm năm mươi mốt nghìn đồng) chi phí tố tụng. Bà P đã nộp đủ.
- [5] Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Bị đơn ông Lê Thuận H tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng). Bị đơn đã nộp đủ.
- [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Thuận H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- [7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Thuận H không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
- [8] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [9] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19/6/2025)
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Lê Thuận H. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2024/DS-ST ngày 31/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Phong Lan |
Bản án số 124/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 124/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị P kiện Lê Thuận H về việc "Tranh chấp quyền sử dung đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
