Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2025/DS-PT

Ngày: 08-4-2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.

Các thẩm phán: Bà Đỗ Thị Nhung.

Ông Trần Vĩnh Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ngọc Châu – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 tháng 4 năm 2025 và 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 442/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 68/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 172/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Vũ Thị M, sinh năm 1990.

    Địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà M (Văn bản ủy quyền ngày 07/3/2024): Bà Vũ Thị N, sinh năm 1948; địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)

  • - Bị đơn: Ông Vũ Tiến Đ, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ (Văn bản ủy quyền ngày 17/12/2024):

    1. Ông Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1981. (có mặt)

      Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    2. Bà Vòng Ngọc Bảo C, sinh năm 2001.(có mặt)

      Địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Vũ Văn V, sinh năm 1985.(vắng mặt)

    2. Bà Mông Thị H, sinh năm 1988.(vắng mặt)

      Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

    3. Ông Vũ Văn Á, sinh năm 1963.

    4. Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1974.

      Cùng địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Á và bà V1 (Văn bản ủy quyền ngày 11/3/2025): Ông Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

5. Ông Vũ Xuân Đ1, sinh năm 1952.

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ1 (Văn bản ủy quyền ngày 17/12/2024):

  1. Ông Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  2. Bà Vòng Ngọc Bảo C, sinh năm 2001.

    Địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của bà Vũ Thị M; bản tự khai, lời trình bày tại biên bản đối chất, biên bản hòa giải và tại phiên tòa của bà Vũ Thị N - người đại diện theo ủy quyền của bà M:

Thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, thuộc quyền sử dụng của bà Vũ Thị M. Bà M được cha là ông Vũ Diệu T và mẹ là bà Vũ Thị N tặng cho thửa đất trên vào ngày 07/12/2020, ngày 05/01/2021, bà M được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L1 cập nhật biến động trang 3 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 435847 sang tên cho bà M.

Tháng 02/2022, bà M phát hiện ông Vũ Tiến Đ đổ đường bê tông lấn chiếm phần đất diện tích 72,2m² (ngang khoảng 02m, dài 36,1m), thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P của bà M. Tháng 10/2023, bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ phải trả lại cho bà M phần diện tích đất lấn chiếm trên.

Đối với mương nước diện tích 80,8m², thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P, thể hiện tại bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024, bà M xác định đã có trước khi bà M và gia đình bà M đến thửa đất 66 trên sinh sống. Mương nước trên nối từ hệ thống thoát nước của đường chính Phước B đến suối C và chảy ra cầu T. Ngoài mương nước trên, các hộ dân xung quanh không còn mương nước nào khác để thoát nước thải sinh hoạt, nước mưa nên nếu lấp mương nước trên sẽ ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước của các hộ dân xung quanh và gây ngập úng. Vì vậy, ngày 08/8/2024, bà M có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần đất tranh chấp với diện tích 55m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P.

Bà M xác định đường bê tông hiện hữu, bờ kè mương nước trên phần đất bà M tranh chấp có diện tích 17,2m², thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P là do ông Vũ Tiến Đ xây dựng. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M thì bà M cũng không đồng ý hoàn trả cho ông Đ số tiền làm đường 18.060.000 đồng (trị giá phần bê tông, bờ kè mương nước ông Đ đã làm).

Bà M không đồng ý với việc ông Đ và ông V trình bày phần đất diện tích 17,2m² trên do cha ruột của ông Đ và ông V là ông Vũ Xuân Đ1 cho để ông Đ làm đường đi. Bà M xác định phần đất diện tích 17,2m² trên thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P và thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà M.

Bà M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ phải trả lại cho bà M hiện trạng phần đất diện tích 17,2m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P, tương ứng theo thửa tạm là 66d được giới hạn bởi các mốc (7, 8, 6', 16, 7) theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024.

* Theo bản tự khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải và lời khai tại phiên tòa, bị đơn ông Vũ Tiến Đ trình bày:

Ông không có ý kiến về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần đất diện tích 55m² thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 38, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai của nguyên đơn.

Về đường đi bê tông, bờ kè mương nước trên phần đất bà M tranh chấp có diện tích 17,2m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P là do ông xây dựng đúng như bà N trình bày. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, ông yêu cầu bà M phải hoàn trả lại cho ông số tiền 18.060.000 đồng trị giá phần bê tông, bờ kè mương nước mà ông đã làm.

Ông thống nhất với trình bày của bà N về mương nước diện tích 80,8m² theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024. Mương nước trên có trước khi ông và gia đình ông đến khu vực gần mương nước sinh sống, mương nước được nối từ hệ thống thoát nước của đường chính Phước B đến suối C và chảy ra cầu T. Ngoài mương nước trên, các hộ dân xung quanh không còn mương nước nào khác để thoát nước thải sinh hoạt và nước mưa nên nếu lấp mương nước sẽ ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước của các hộ dân xung quanh và gây ngập úng.

Phần đất diện tích 34,8m² tranh chấp được thể hiện theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024 thuộc một phần của mương nước diện tích 80,8m² và thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P.

Ngoài một phần đường bê tông hiện hữu thuộc thửa tạm 66d diện tích 17,2m² ra thì ông còn con đường bê tông hiện hữu ngang 4,15m, dài 36,16m thuộc thửa tạm 70b và thuộc một phần thửa đất 70, tờ bản đồ số 38 xã P dùng làm lối đi. Thửa đất 70b có diện tích 114,6m² thuộc một phần của thửa đất số 70, tờ bản đồ số 38 xã P thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Vũ Văn V là anh ruột của ông. Ông V đồng ý cho ông thửa đất 70b để làm đường đi, hiện nay ông và gia đình ông đi trên đường bê tông hiện hữu thuộc thửa 70b và thửa 66d.

Đường bê tông hiện hữu thuộc thửa 70b gồm có ông, ông V và bà Mông Thị H đi chung. Ngoài ra, không còn hộ dân nào đi. Phần đất diện tích 17,2m² trên có thuộc quyền quản lý sử dụng của bà M hay không thì ông không biết. Ông không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà M về việc yêu cầu ông phải trả lại cho bà M hiện trạng phần đất diện tích 17,2m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P (tương ứng với thửa tạm 66d được giới hạn bởi các mốc 7, 8, 6', 16, 7 theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024). Vì nguồn gốc phần đất diện tích 17,2m² trên do cha ruột ông là ông Vũ Xuân Đ1 cho ông bằng miệng và không có giấy tờ nên không cung cấp được cho Tòa án.

Trong vụ án này, ông không có yêu cầu phản tố.

* Theo bản tự khai, lời trình bày tại biên bản đối chất, biên bản hòa giải và tại phiên tòa của ông Vũ Văn V:

Ông không có ý kiến về việc rút yêu cầu khởi kiện đối với phần đất diện tích 55m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai của nguyên đơn.

Ông thống nhất với lời trình bày của ông Đ về con đường bê tông hiện hữu ngang 4,15m, dài 36,16m thuộc một phần thửa đất số 70, tờ bản đồ số 38 xã P. Phần diện tích đất làm con đường trên tương ứng với thửa đất 70b (theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024) có nguồn gốc do ông cho ông Đ làm đường đi. Ông đồng ý tiếp tục cho ông Đ thửa 70b trên để ông Đ làm đường đi.

Về phần đường đi bê tông, bờ kè mương nước trên phần đất bà M tranh chấp có diện tích 17,2m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P là do ông Đ xây dựng như bà N trình bày. Ông thống nhất với trình bày của bà N, ông Đ về mương nước diện tích 80,8m² theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024, ông xác định mương nước trên có trước khi ông và gia đình ông đến khu vực gần mương nước sinh sống. Mương nước được nối từ hệ thống thoát nước của đường chính Phước B đến suối C và chảy ra cầu T. Ngoài mương nước trên thì các hộ dân xung quanh không còn mương nước nào khác để thoát nước thải sinh hoạt và nước mưa nên nếu lấp mương nước sẽ ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước của các hộ dân xung quanh và gây ngập úng.

Ông cũng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M về việc yêu cầu ông Đ phải trả lại cho bà M phần đất diện tích 17,2m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P. Bởi lẽ phần diện tích đất trên do cha ruột ông là ông Vũ Xuân Đ1 cho ông Đ bằng miệng, không có giấy tờ nên không cung cấp được cho Tòa án. Về nguồn gốc phần đất 17,2m² bà M tranh chấp có thuộc quyền quản lý sử dụng của bà M hay không thì ông không biết.

Trong vụ án này, ông không có yêu cầu độc lập.

* Theo bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của ông Vũ Văn Á:

Ông là chú ruột của ông Vũ Tiến Đ và cũng là chú ruột của bà Vũ Thị M.

Hiện nay, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị V1 đang cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 648168 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/10/2020, đồng sử dụng với ông Vũ Tiến Đ thửa đất 96, tờ bản đồ số 38 xã P. Ông được biết hiện nay thửa đất 96, tờ bản đồ số 38 xã P có liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà M và ông Đ.

Ông xác định vợ chồng ông không sinh sống trên thửa đất 96, tờ bản đồ số 38 xã P. Ông thống nhất với ý kiến trình bày của ông Đ. Ngoài ra, ông không có ý kiến trình bày nào khác.

Ông không có yêu cầu độc lập hay yêu cầu nào khác trong vụ án này.

* Theo bản tự khai của bà Mông Thị H:

Bà kết hôn cùng ông Vũ Văn V từ năm 2012 và về sinh sống tại ấp A, xã P cho đến nay.

Về nguồn gốc thửa đất vợ chồng bà đang sinh sống là do cha mẹ chồng là ông Vũ Xuân Đ1 và bà Vương Thị L cho. Từ khi bà về sinh sống tại ấp A, xã P thì mương nước giữa đất của vợ chồng bà và đất của bà M đã có. Bà không có ý kiến và yêu cầu gì đối với phần đất bà M tranh chấp với ông Đ. Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Bà xác định phần đất làm con đường bê tông ngang khoảng 4,3m nối dài từ nhà ông Đ ra đường giao thông của Nhà nước là thuộc thửa 70, tờ bản đồ số 38 xã P của vợ chồng bà, vợ chồng bà đã cho ông Đ để làm đường đi, khi cho không làm giấy tờ do là anh em với nhau. Hiện tại vợ chồng bà không có ý kiến và cũng không có yêu cầu gì đối với phần đất đã cho ông Đ làm đường đi nên ông Đ được toàn quyền quyết định.

Vợ chồng bà không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

* Theo bản tự khai của bà Nguyễn Thị V1:

Bà là vợ của ông Vũ Văn Á, ông Á là chú ruột của ông Vũ Tiến Đ và cũng là chú ruột của bà Vũ Thị M.

Hiện nay, bà cùng chồng là ông Vũ Văn Á đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 648168 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/10/2020, đồng sử dụng với ông Vũ Tiến Đ đối với thửa đất 96, tờ bản đồ số 38 xã P. Bà được biết hiện nay thửa đất 96, tờ bản đồ số 38 xã P có liên quan đến tranh chấp giữa bà M và ông Đ.

Bà đồng ý với ý kiến trình bày của ông Đ và không có ý kiến trình bày nào khác. Bà không có yêu cầu độc lập hay yêu cầu nào khác trong vụ án này.

* Theo bản tự khai và lời khai tại phiên tòa của ông Vũ Xuân Đ1 trình bày:

Ông là cha ruột của ông Vũ Tiến Đ và cũng là chú ruột của bà Vũ Thị M.

Phần đất diện tích 17,2m² hiện bà M đang tranh chấp với ông Vũ Tiến Đ là do ông cho ông Đ, nhưng cho vào thời gian nào thì ông không nhớ rõ và việc cho không được làm trên giấy tờ nên ông không có tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên ông xác định nguồn gốc phần đất diện tích 17.2 m² hiện bà M tranh chấp trước đây là bờ ao. Ông thống nhất với ý kiến trình bày của ông Đ và không có ý kiến nào khác.

Tại phiên tòa sơ thẩm vào ngày 29/8/2024, ông Đ1 cho rằng phần diện tích đất 17,2m² bà M tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Đ1, nhưng ông Đ1 không có tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Hội đồng xét xử, ông Đ1 khẳng định phần đất diện tích 17,2m² bà M tranh chấp là do ông Đ1 cho ông Đ làm đường đi và chỉ cho miệng, không lập giấy tờ nên không cung cấp được cho Hội đồng xét xử. Ông Đ1 không có yêu cầu khởi kiện độc lập hay yêu cầu nào khác trong vụ án này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 11-9-2024, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 267, điểm c khoản 1 Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 5, khoản 5 Điều 166 của Luật Đất đai; Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị M đối với ông Vũ Tiến Đ về diện tích đất 55m² thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 38, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị M về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Vũ Tiến Đ.

    Buộc ông Vũ Tiến Đ giao trả cho bà Vũ Thị M quản lý, sử dụng diện tích đất 17,2m² thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 38, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, tương ứng thửa tạm 66d, được giới hạn bởi các mốc (7, 8, 6', 16, 7) tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024.

    Buộc bà Vũ Thị M hoàn trả cho ông Vũ Tiến Đ 18.060.000 đồng (Mười tám triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) trị giá phần bê tông, bờ kè mương trên con đường diện tích 17,2m² thuộc một phần thửa đất số 66, tờ bản đồ số 38, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, tương ứng thửa tạm 66d tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

- Ngày 13/9/2024, bà Vũ Thị M1 có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng không buộc bà phải trả lại cho ông Vũ Tiến Đ tiền làm đường bê tông trên đất của bà.

- Ngày 18/9/2024, ông Vũ Tiến Đ có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Công nhận phần đất diện tích 17,2m² bà M tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Đ, bởi lẽ phần đất trên trước đây cha ông Đ là ông Vũ Xuân Đ1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, buộc giảm trừ phần diện tích đất trên ra khỏi diện tích đất mà bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm của người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu kháng cáo của các đương sự: Bà Vũ Thị M khởi kiện yêu cầu ông Vũ Tiến Đ trả lại cho bà M phần đất diện tích 17,2m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P, huyện L, tương ứng với thửa tạm 66d, được giới hạn bởi các mốc (7, 8, 6', 16, 7) theo Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024.

Đối với mương nước diện tích 80,8m² thuộc một phần thửa đất 66, tờ bản đồ số 38 xã P, thể hiện tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4061/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2 ngày 16/7/2024. Các đương sự đều xác định mương nước này có trước khi gia đình bà M và gia đình ông Đ đến thửa đất 66 và thửa đất 70 sinh sống. Mương nước trên nối từ hệ thống thoát nước của đường C đến suối C, chảy ra cầu T. Ngoài mương nước trên, các hộ dân xung quanh không còn mương nước nào khác để thoát nước thải sinh hoạt, nước mưa. Nếu lấp mương nước sẽ ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước của các hộ dân xung quanh và gây ngập úng.

Như vậy, theo thừa nhận của các đương sự thì đây là mương nước công cộng của cả cộng đồng dân cư, trước khi gia đình bà M và ông Đ đến sinh sống thì đã có con mương hiện hữu. Việc gia đình bà Vũ Thị N, ông Vũ Diệu T (là cha mẹ của bà M) được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho cả diện tích của con mương công cộng là không đúng với diện tích thực tế sử dụng. Tòa án chưa đưa Ủy ban nhân dân huyện L vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án để làm rõ việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N, ông T (sau này tặng cho lại bà M) có đúng theo quy định của pháp luật hay không? Tại sao khi cấp Giấy không trừ phần diện tích của con mương công cộng? Khi cấp đất có đối soát với diện tích thực tế các đương sự sử dụng ngoài thực địa không, hay chỉ cấp đất trên giấy tờ đồng loạt? là bỏ sót tư cách đương sự, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Vũ Thị N cũng trình bày con mương nước trước đây có chiều ngang rộng hơn con mương hiện tại. Khi gia đình ông Đ đổ đất làm đường đã lấn sang diện tích con mương chung làm chiều rộng của con mương công cộng bị hẹp lại. Như vậy, cần phải xác minh tại cộng đồng dân cư nơi sinh sống của gia đình bà N và gia đình ông Đ, đồng thời cũng cần xác minh tại Ủy ban nhân dân xã P để làm rõ sự thật con mương công cộng trước kia có diện tích như thế nào? Có việc gia đình ông Đ lấn mương làm đường như phía bà N đã trình bày hay không? để có cơ sở giải quyết vụ án.

Do Tòa án cấp sơ thẩm bỏ sót tư cách đương sự, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ nên cần phải hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án. Đối với các yêu cầu của đương sự sẽ được xem xét lại sau khi thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định của pháp luật. Vì vậy, kháng cáo của nguyên đơn bà Vũ Thị M, bị đơn ông Vũ Tiến Đ là có cơ sở để chấp nhận một phần.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà Vũ Thị M và ông Vũ Tiến Đ. Áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành do bỏ sót tư cách đương sự, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. Về thời hạn nộp đơn kháng cáo: Bà Vũ Thị M và ông Vũ Tiến Đ nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, đồng thời cả hai cũng đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

  2. Về quan hệ pháp luật: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng.

  3. Về nội dung kháng cáo của các đương sự:

    Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều xác định ranh giới giữa hai thửa đất 66 và 70, tờ bản đồ số 38 xã P, huyện L là mương nước được nối từ hệ thống thoát nước của đường chính Phước B đến suối C và chảy ra cầu T. Các đương sự đều xác định mương nước đã có từ trước khi các đương sự đến sinh sống tại các thửa đất, ngoài mương nước trên thì các hộ dân xung quanh không còn mương nước nào khác để thoát nước thải sinh hoạt, nước mưa nên nếu lấp mương nước sẽ ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước của các hộ dân xung quanh, gây ngập úng.

    Do vậy nên có căn cứ xác định đây là mương nước công cộng của cả cộng đồng dân cư, mương nước đã hiện hữu từ trước khi gia đình bà M và gia đình ông Đ đến sinh sống trên các thửa đất. Vì vậy việc Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vũ Diệu T – bà Vũ Thị N (cha mẹ của bà M) và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vũ Xuân Đ1 (cha của ông Đ) có chồng lấn lên phần đất của con mương công cộng hay không và có đúng với phần đất thực tế hai bên sử dụng hay không là điều cần thiết phải được làm rõ. Vì vậy cần phải đưa cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án để làm rõ việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T – bà N (sau này tặng cho lại bà M) và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ1 (sau này tặng cho lại ông Đ) có đúng theo quy định của pháp luật hay không? vì sao khi cấp không trừ phần diện tích đất của con mương công cộng? thời điểm cấp đã có đối soát ngoài thực địa phần đất thực tế các bên đương sự sử dụng không hay chỉ cấp trên giấy tờ đồng loạt?.

    Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, bà N có trình bày mương nước trước đây có chiều ngang rộng hơn mương nước hiện tại, khi ông Đ đổ đất làm đường đã lấp hơn ½ chiều rộng của mương nước. Do vậy, nhận thấy cần phải có sự xem xét, xác minh cộng đồng dân cư tại địa phương để làm rõ sự thật về con mương trước đây có chiều ngang như thế nào (từ đầu nguồn con mương), có việc ông Đ đã đổ đất lấn mương làm đường như phía bà N trình bày hay không để có cơ sở giải quyết vụ án.

  4. Do tại phiên tòa phúc thẩm phát sinh thêm các tình tiết mới như trên mà Hội đồng xét xử không thể thực hiện được việc sửa chữa, bổ sung ngay tại phiên tòa nên cần hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, chuyển hồ sơ vụ án về lại cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

  5. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: Do bản án dân sự sơ thẩm bị hủy nên không đặt ra xem xét.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án dân sự sơ thẩm bị hủy nên bà M và ông Đ không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà M và ông Đ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

  7. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm... án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án về lại cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Vũ Thị M và ông Vũ Tiến Đ không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà Vũ Thị M số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0016286 ngày 18/9/2024; hoàn trả lại cho ông Vũ Tiến Đ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0016290 ngày 18/9/2023. Tất cả các khoản tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trên đều được các đương sự nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Nhung Trần Vĩnh Yên

Trương Thị Thảo

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Long Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2025/DS-PT ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 124/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị M - Vũ Tiến Đ - Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger