Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/DSPT

Ngày: 15-7-2024.

V/v: "Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các thẩm phán: Ông Lê Văn Duy

Ông Thái Văn Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định:

Bà Lê Thị Vân- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:159/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 327/2023/DS-ST ngày 20/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 244/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đinh Văn L, sinh năm 1958, địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Đại diện theo ủy quyền của ông Định Văn L1:

  1. Ông Võ Văn M, sinh năm 1974; địa chỉ: 1 đường Số B phường F, quận G, thành phố Hồ Chí Minh(Hợp đồng ủy quyền số Công chứng: 333 ngày 23/01/2024 tại Phòng C, tỉnh Bình Định); có mặt.
  2. Bà Đinh Thị K, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định(theo Hợp đồng ủy quyền số Công chứng: 007267 ngày 23/12/2024 tại Văn phòng C1); có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1941, địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hồ Thị L2, sinh năm 1960, địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
  2. Bà Đinh Thị Ngọc T1, sinh năm 1985, địa chỉ: 8,V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Bà Đinh Thị K, sinh năm 1982, địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Thị L2 và bà Đinh Thị Ngọc T1 là bà Đinh Thị K, sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định(theo Hợp đồng ủy quyền số Công chứng: 93 ngày 08/01/2024 tại Văn phòng C2 và Giấy ủy quyền số Công chứng: 000020 ngày 06/01/2024 tại Văn phòng C3); có mặt.

  1. Ông Đinh Thế B, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Đại diện theo ủy quyền của của Đinh Thế B là ông Ô Đinh Văn L, sinh năm 1958, địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định(theo Hợp đồng ủy quyền số Công chứng: 0777 ngày 11/02/2023 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Dương); vắng mặt.

  1. Ông Huỳnh Đức D, sinh năm 1964; có mặt
  2. Bà Huỳnh Thị Bích S, sinh năm 1988
  3. Ông Huỳnh Đức B1, sinh năm 1990.

Cùng địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Đại diện theo ủy quyền Huỳnh Thị Bích S và Huỳnh Đức B1 là ông Huỳnh Đức D, địa chỉ: Khu K, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định(theo Hợp đồng ủy quyềnsố Công chứng: 1841 ngày 06/4/2023 tại Văn phòng C2); có mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc B2, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.

Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ngọc B2 là bà Nguyễn Thị B3, sinh năm 1954, địa chỉ: Khu P, phường B, thị xã H Bình Định(theo Hợp đồng ủy quyền số Công chứng: 200 ngày 12/01/2024 tại Văn phòng C2); có mặt.

  1. Ông Huỳnh Long B4, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Hiện đang chấp hành án tại: P, Trại giam T2, Cục C10 BCA; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

  • + Ông Châu Ngọc H, sinh năm 1934, địa chỉ: Khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1964, địa chỉ: Khu phố M, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; có mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đinh Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/7/2020, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đinh Văn L đồng thời cũng là người đại diện hợp pháp của chị Đinh Thị Ngọc T1 và anh Đinh Thế B trình bày:

Thửa đất số 552 tờ bản đồ số 7 diện tích 995,7m² (trong đó có 200m2 đất ở còn lại là đất trồng cây lâu năm) tại phường H có nguồn gốc hộ gia đình ông mua của bà Lê Thị K1 và sử dụng từ năm 1986 đến nay. Năm 1997, được Nhà nước cấp cho hộ gia đình gồm có 05 nhân khẩu là ông, bà L2 và các con là bà K, bà T1, ông B. Đến năm 2007, ông xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo VN2000. Khi ông ở thì giữa hai thửa đất không có hàng rào, số cây tự nhiên có sau này, do không ai phát dọn nên cây lớn dần như hiện nay. Khoảng năm 1987-1988, bà T tự ý trồng 01 dừa qua đất của gia đình ông ở phía Tây giáp đường bê tông, ông đã báo với ông Nguyễn N (đã chết) là đội trưởng đội sản xuất đồng thời yêu cầu nhổ nhưng bà T không nhổ và ông cũng trồng 01 cây dừa liền kề trên đất của ông, hai cây dừa đã lớn như hiện nay. Hai cây dừa cách đó vài mét về phía Đ và số dừa phía sau vườn là của bà T thu hái nhưng ông không xác định được ai trồng, trồng khi nào. Ông L cho rằng hai cây dừa của bà T ở phía trước nhà là trồng đúng đất của bà T nhưng sau này căn cứ theo sơ đồ VN2000 ông mới biết là trồng trên đất của ông. Đến năm 2020, bà T yêu cầu ông ký giáp ranh để bà cho đất các cháu. Khi địa chính đo đạc, căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sơ đồ đã cấp cho ông năm 2007 thì ông mới biết chính xác phần đất mà bà T đã lấn. Nay ông yêu cầu bà T trả lại phần đất đã lấn chiếm theo đúng sơ đồ tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và như ông đã chỉ dẫn đo đạc khi định giá tài sản. Số dừa của bà T có trên đất, yêu cầu bà T chặt dọn hoặc ông sẽ trả lại giá trị cho bà T. Phần hàng rào gạch phía Đông bà T phải dọn dỡ phần xây lấn. Số cây tự nhiên không do ai trồng nên nằm trên đất của ai thì người đó sử dụng.

- Tại Bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà sử dụng đúng đất của mình không lấn đất như ông L trình bày. Đất có nguồn gốc của ông bà phía chồng của bà ở từ trước chiến tranh. Một cây dừa phía Tây gần đường do bà trồng từ năm 1987 trên đất của mình, ông L cũng trồng một cây liền kề trên đất của ông. Các cây dừa còn lại là do cha chồng của bà trồng từ trước khi bà về làm dâu. Năm 1997, Nhà nước đã cấp sổ đỏ cho hộ gia đình bà đến nay chưa đổi sổ mới. Trước đây, giữa hai thửa đất có hàng rào tự nhiên nhưng hiện nay chỉ còn các cây quăn, cây duối... như Tòa án đã xem xét. Bà sử dụng đất đúng theo ranh giới cũ từ các gốc cây này về phía Nam và xây hàng rào đúng đất của mình chứ không lấn của ông L. Bà không đồng ý với yêu cầu đòi trả đất của ông L, phần đất mà ông L tranh chấp là của bà. Phần hàng rào phía Tây gồm trụ bêtông và lưới B40, ông L đã xây trên đất của bà nên yêu cầu ông L phải dọn dỡ, trả lại đất.

- Tại Bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hồ Thị L2 trình bày: Bà cũng thống nhất ý kiến của ông L. Trước đây giữa hai thửa đất không có hàng rào cây sống. Số cây tự nhiên như hiện nay là tự mọc cách đây khoảng 10 năm. Cây duối do ở gần đống phân chuồng bò và đường nước thải nên phát triển lớn nhanh chứ không phải cây lâu niên. Các loại cây khác do được hai bên nâng đất nền nên cây tốt phát triển nhanh chứ cũng không phải cây lâu niên.

+ Bà Đinh Thị K trình bày: Tôi thống nhất theo ý kiến của ông L bà L2, không có ý kiến gì khác.

+ Ông Huỳnh Đức D đồng thời cũng là đại diện hợp pháp của chị Huỳnh Thị Bích S và anh Huỳnh Đức B1 trình bày trình bày: Cây dừa phía Tây sát cây dừa của ông L là do bà T chỉ cho ông trồng vào năm 1987 lúc ông đã về làm rể nhà bà T. Khi ông trồng thì ông L cũng trồng một cây liền kề như hiện nay. Các cây dừa còn lại lúc ông về làm rể vào năm 1987 thấy đã có, là dừa cao đã có trái. Ông không đồng ý với yêu cầu của ông L. Phần hàng rào phía Tây gồm trụ bêtông và lưới B40 do ông L xây dựng trên đất của bà T, khi ông ý kiến thì bà T có nói là còn cây dừa làm mốc nên đến nay hàng rào này còn tồn tại, ông cũng thống nhất ý kiến của bà T, yêu cầu ông L dọn dỡ đoạn hàng rào này. Phần hàng rào phía Đông của bà T do ông trực tiếp xây, lúc xây ông L đã thống nhất nhưng nay lại nói có lấn qua đất thì ông không đồng ý. Ông không chấp nhận yêu cầu đòi đất của ông L.

+ Theo Bản tự khai bà Nguyễn Thị Ngọc B2 trình bày: Chồng bà là cháu của bà T, bà T cho vợ chồng bà một phần đất, hiện vợ chồng bà đã xây dựng nhà ở và trực tiếp sử dụng phần đất này. Mọi vấn đề liên quan đến tranh chấp đất, bà thống nhất theo ý kiến của bà T, trên phần đất tranh chấp không có tài sản gì của vợ chồng bà.

+ Ông Huỳnh Long B4 hiện đang chấp hành án tại Phân trại số D, Trại giam T2, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa không có ý kiến gì và đề nghị xét xử vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).

- Theo Biên bản lấy lời khai của người làm chứng:

+ Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2023 ông Châu Ngọc H trình bày: Ông không có quan hệ bà con với ông L và bà T, ông là người dân sinh sống tại địa phương từ kháng chiến chống Pháp đến nay. Ông được biết bà T đã ở trên đất như hiện nay từ trước chiến tranh. Đất của bà T hiện nay là đúng như đất của gia đình bà đã ở trước đây, còn ông L chỉ đến ở từ sau giải phóng. Số cây dừa, cây lâu niên và hàng rào cây sống như hiện nay giữa đất bà T và ông L là đúng như ranh giới đất của bà T từ trước đến nay. Cây dừa, cây quăn, cây duối đã có từ lâu đời, là của bà T, nằm trên đất của bà T.

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc H1 trình bày: Bà không có quan hệ bà con với ông L và bà T. Thửa đất ông L đang sử dụng, trước đây là của mẹ bà là bà Lê Thị K1 (đã chết). Khoảng những năm 1986-1987, mẹ con bà ở tại thửa đất này, sau đó đã bán cho ông L. Lúc đó, trước ngõ vào có một bụi tre và một cái ao bên phía đất bà T, giữa hai thửa đất có hàng rào cây sống, có hàng cây quăn, còn dừa thì bà không nhớ rõ. Sau khi bán đất, bà cũng không quay về nên không rõ đất hiện nay như thế nào.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 327/2023/DS-ST ngày 20/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả phần đất diện tích 51,6m² và yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải dọn dỡ tài sản có trên đất. Hộ gia đình bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng diện tích đất 51,6m² thuộc thửa đất số 657 tờ bản đồ số 7 tại khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định, có giới cận và kích thước như sau:
    • - Đông giáp đường đất dài 0.59m;
    • - Tây giáp đường bêtông dài 1,36m;
    • - Nam giáp phần còn lại của thửa đất số 657 dài 25,82m + 33,25m;
    • - Bắc giáp thửa đất số 552 dài 26,38m + 29,89m.
  2. Buộc ông Đinh Văn L phải dọn dỡ phần lưới B40 cao 1,5m dài 0,6m và 01 trụ bêtông cao 1,8m, kích thước 15cm x 10cm nằm trên diện tích 51,6m² thuộc thửa đất số 657 tờ bản đồ số 7 tại khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
  3. Về án phí và tiền tạm ứng án phí:
    • 3.1. Ông Đinh Văn L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    • 3.2. Khi thụ lý vụ án, ông Đinh Văn L được miễn nộp tạm ứng án phí nên không xem xét trả lại.
  4. Về chi phí tố tụng khác: Ông Đinh Văn L phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí định giá tài sản và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, ông L đã nộp đủ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 24/10/2023, nguyên đơn ông Đinh Văn L kháng cáo với nội dung: Yêu cầu bà T trả lại phần đất đã lấn chiếm theo đúng sơ đồ tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và theo chỉ dẫn đo đạt; bà T chặt dọn dừa có trên đất, tháo dỡ bờ tường xây lấn, số cây tự nhiên nằm trên đất của ai thì người đó sử dụng.

Ngày 15/01/2024 bà Đinh Thị K là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu đo vẽ lại hiện trạng sử dụng hai thửa đất số 552 và 657 và xem xét thẩm định tại chỗ phần diện tích làm hàng rào tự nhiên đang tranh chấp giữa hai thửa đất trên. Ngày 04/4/2024 đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ; ngày 09/5/2024 nguyên đơn cung cấp kết quả đo vẽ lại là “Trích đo bản đồ địa chính" ngày 12/4/2024 của Công ty Cổ phần Đ1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Đinh Văn L giữ nguyên nội dung kháng cáo, cụ thể: Thửa đất số 552 (theo bản đồ VN2000) có diện tích 995,7m² được cấp quyền sử dụng cho hộ gia đình ông L; tiếp giáp với thửa đất số 552 về phía nam là thửa đất số: 657 do bà T quản lý sử dụng. Căn cứ theo sơ đồ thửa VN2000 thì bà T đã sử dụng đất lấn sang phần đất thửa số 552 được cấp cho hộ gia đình ông L. Nay yêu cầu bà T trả lại phần đất đã lấn chiếm hiện tại là hàng rào giữa hai thửa đất số 552 và 657 nêu trên; bà T chặt dọn dừa có trên đất, tháo dỡ bờ tường xây lấn, số cây tự nhiên nằm trên đất của ai thì người đó sử dụng; sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 327/2023/DS-ST ngày 20/10/2023 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Thửa đất số 549, nay là thửa 657 (theo bản đồ VN2000) có diện tích 2.282,9m² bà đang quản lý sử dụng có nguồn gốc phía chồng bà ở từ trước chiến tranh. Năm 1987 bà trồng 01 cây dừa phía Tây thửa đất phần giáp với phần đất ông L để làm hàng rào, ông L cũng trồng một cây dừa gần liền kề cây dừa bà trồng trên đất của ông L, hiện nay hai cây dừa này vẫn tồn tại và cùng hưởng hoa lợi từ dừa mình trồng, không có tranh chấp. Ngoài ra, hàng rào tự nhiên hai thửa đất có dừa bà trồng và cây tự nhiên sống đã lớn như cây duối, cây mắm, cây quăn. Về phía đông thửa đất phần giáp với đất ông L bà xây tường bằng gạch để làm hàng rào, ông L cũng không tranh chấp. Từ tường bằng gạch đã xây, đến các cây sống tự nhiên và các cây dừa bà trồng nêu trên đến cuối thửa đất theo đường thẳng là đất của bà. Cho nên, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông L, yêu cầu ông L tháo dỡ lưới B40 dài 0,6m, trụ bê tông (phía tây giáp đường bê tông) trả lại đất cho bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:

  • - Về pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Đinh Văn L là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Thế B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng tiến hành xét xử.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật TTDS năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Văn L, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Văn L trong hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo đúng quy định nên xem xét theo trình tự phúc thẩm. Ông Đinh Văn L với tư cách là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Thế B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử.

[2] Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Văn L, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo hồ sơ địa chính năm 1985, thì thửa đất số 552 tờ bản đồ số 7 (VN2000) là thửa số 550 tờ bản đồ số 7 diện tích 672m² ghi tên bà Lê Thị K1; còn thửa đất số 567 tờ bản đồ số 7 (VN2000) là thửa số 549 tờ bản đồ số 7 diện tích 1990m² ghi tên bà Nguyễn Thị T. Năm 1997, hộ ông L được cấp quyền sử dụng thửa số 550 tờ bản đồ số 7 diện tích 672m². Ngày 28/6/2007, ông L có đơn xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên thửa số 550 được cấp giấy chứng nhận thành thửa 552 diện tích 995,7m². Còn thửa số 549 được cấp cho hộ bà T, theo hồ sơ VN2000 thì thửa số 549 đổi số thửa thành 657 có diện tích 2.282,9m², bà T chưa được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo kết quả đo vẽ theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/3/2023 thì diện tích thửa đất số 552 là 918,4m², thiếu 77,3 m² (995,7 m² - 918,4m2) và diện tích thửa 657 là 2.213,0m², thiếu 69,9m² (2.282,9m² - 2.213,0m²) so với diện tích theo bản đồ VN2000. Còn kết quả đo vẽ lại theo yêu cầu của nguyên đơn thì diện tích của thửa đất số 552 là 976,9m², thiếu 18,8m²(995,7m² - 976,9m²) còn diện tích thửa 657 là 2.271,1m², cũng thiếu 11,8m²(2.282,9m² - 2.271,1m²) so với diện tích theo bản đồ VN2000.

Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/3/2023 và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ lại 04/4/2024 đều thể hiện: giữa hai thửa đất số 552 của ông L và thửa số 657 bà T quản lý sử dụng có hàng rào cây sống cao trên 1m, có cây lâu năm có đường kính gốc lớn (cây duối đường kính gốc >30cm, cây mắm, cây quăn đường kính gốc >20cm...). Ông L cũng thừa nhận là khoảng năm 1986-1987, bà T trồng dừa thì ông cũng trồng một cây bên cạnh, hiện nay mỗi người thu hoa lợi từ dừa mình trồng, không có tranh chấp. Khi bà T xây hàng rào ông L cũng vẫn để bà T xây dựng xong.

Theo Báo cáo số; 160/BC-UBND ngày 14/11/2022 của UBND phường H và Công văn số: 2565/UBND-TNMT ngày 16/12/2022 của UBND thị xã H xác định: Nguyên nhân chênh lệch diện tích giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực tế sử dụng của các thửa đất số 522 và 657, tờ bản đồ số 7(V- 2000) là do: “Trước đây do đo đạt V- 2000 xác định ranh mốc giới chưa chính xác, ranh giới thửa đất 550 có thay đổi, khi đo đạt cấp đổi cho hộ ông Đinh Văn L cấp đổi phần diện tích đất hộ bà Nguyễn Thị T đang sử dụng hiện trạng vẫn còn hàng rào bằng cây sống(có từ 35 năm trở lên gồm các loại cây quen, dừa và một số cây ăn quả) và một phần diện tích tăng là do sai số khi đo đạt.”

“Thực trạng các thửa đất số 522 và 657 tờ bản đồ số 7 (như sơ đồ hiện trạng thửa đất đang tranh chấp) không có diện tích đất giao thông"

Khi xác định phần đất tranh chấp giữa hai thừa, đại diện của nguyên đơn và bị đơn, trực tiếp chỉ dẫn ranh giới để đo vẽ từ hàng rào do bà T xây dựng, đến các cây tự nhiên và các cây dừa có sự chênh lệch diện tích giữa các lần đo vẽ (đo vẽ lần đầu là 51,6m², đo vẽ lần 2 là 57,7m²) và cũng không đúng như ranh giới bản đồ VN2000. Mặc khác, khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ từ tường bằng gạch bà T đã xây, đến các cây sống tự nhiên và qua giữa hai cây dừa ông L, bà T thừa nhận trồng năm 1987 thu hoa lợi từ dừa mình trồng và không tranh chấp đến cuối thửa đất theo đường thẳng ông L có rào lưới B40 dài 0,6m, trụ bê tông về phía nhà bà T(phía tây giáp với đường bê tông).

Cho nên, ông L căn cứ theo sơ đồ đo vẽ theo VN2000 thể hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00006 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 20/8/2007 để cho rằng bà T lấn đất của ông là không có cơ sở. Bà T yêu cầu ông L tháo dỡ lưới B40 dài 0,6m, trụ bê tông (phía tây giáp với đường bê tông) trả lại đất cho bà là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Văn L; giữ nguyên bản án dân sự số 327/2022/DS-ST ngày 20/10/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông Đinh Văn L tháo dỡ tài sản trên đất đang tranh chấp là lưới B40, trụ bê tông là thuộc yêu cầu phản tố, nên cần nhận định và thực hiện thủ tục phản tố theo Điều 200 và 202 Bộ luật TTDS. Bà T chưa đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên chưa được cấp lại quyền sử dụng thửa 657, tờ bản đồ số 7(VN2000), nhưng Tòa cấp sơ thẩm tuyên bà T được quyền sử dụng 51,6m² thuộc thửa 657, tờ bản đồ số 7 là vượt quá thẩm quyền.

[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đinh Văn L thuộc trường hợp người cao tuổi nên là được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Chi phí xem xét và thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm là 3.000.000 đồng, nguyên đơn đã nộp và phải chịu. Chi phí đo vẽ lại hai thửa đất tranh chấp do nguyên đơn thuê; kháng cáo không được chấp nên nguyên đơn tự chịu.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào các điều 26, 166, 170 của Luật Đất đai;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn L về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả phần đất diện tích 51,6m² và yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải dọn dỡ tài sản có trên đất; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 327/2023/DS-ST ngày 20/10/2023 của Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.

    Diện tích đất tranh chấp giữa hai thửa 552 và 657 tờ bản đồ số 7(VN2000) là 51,6m² thuộc thửa đất số 657 tờ bản đồ số 7 tại khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định, có giới cận và kích thước như sau:

    • - Đông giáp đường đất dài 0.59m;
    • - Tây giáp đường bêtông dài 1,36m;
    • - Nam giáp phần còn lại của thửa đất số 657 dài 25,82m + 33,25m;
    • - Bắc giáp thửa đất số 552 dài 26,38m + 29,89m.

    (Có sơ đồ kèm theo)

  2. Buộc ông Đinh Văn L phải tháo dỡ phần lưới B40 cao 1,5m dài 0,6m và 01 trụ bêtông cao 1,8m, kích thước 15cm x 10cm nằm trên diện tích 51,6m² thuộc thửa đất số 657 tờ bản đồ số 7 tại khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
  3. Về chi phí tố tụng khác:
    • - Ông Đinh Văn L phải chịu 2.000.000 đồng chi phí định giá tài sản và 1.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, ông đã nộp đủ.
    • - Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (theo yêu cầu xem xét thẩm định lại ở cấp phúc thẩm) là 3.000.000 đồng, ông Đinh Văn L phải chịu 3.000.000 đồng và ông đã nộp đủ.
    • - Chi phí đo vẽ lại hai thửa đất (theo yêu cầu đo vẽ lại ở cấp phúc thẩm), ông Đinh Văn L thuê đơn vị đo vẽ đã thanh toán xong, ông L phải chịu.
  4. Về án phí:

    Ông Đinh Văn L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND Cấp cao;
  • -VKSND tỉnh Bình Định;
  • -Các đương sự;
  • -Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn;
  • - TAND thị xã Hoài Nhơn;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/DSPT ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 124/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger