TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án: 124/2024/HNGĐ–ST
Ngày: 13-5-2024
Về việc: “Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Phước Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Phi Hổ
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 430/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 137/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/04/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Ông Phạm Duy T, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Số nhà A, tổ F, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Trần Thị Kim H trình bày:
Bà H và ông Phạm Duy T tự nguyện đến với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng càng về sau thì vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến gia đình luôn căng thẳng. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Phạm Trần Tú U, sinh ngày 17/3/2016 và Phạm Thiên M, sinh ngày 10/5/2020. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Tú U và Thiên M. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn ông Phạm Duy T trình bày:
Ông T và bà H tự nguyện đến với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Ông T xác nhận quá trình sống chung, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung khiến hôn nhân trở nên căng thẳng. Tuy nhiên, ông không đồng ý ly hôn với lý do đó và muốn cho cả hai vợ chồng có cơ hội để hàn gắn.
Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Phạm Trần Tú U, sinh ngày 17/3/2016 và Phạm Thiên M, sinh ngày 10/5/2020. Sau khi ly hôn, ông đồng ý giao hai cháu Tú U và Thiên M cho bà H là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký kể từ khi thụ lý vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Trần Thị Kim H; Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Phạm Trần Tú U, sinh ngày 17/3/2016 và Phạm Thiên M, sinh ngày 10/5/2020. Sau khi ly hôn, bà H có nguyện vọng được chăm sóc và nuôi dưỡng cháu U và cháu M và ông T cũng đồng ý giao cháu U và cháu M cho bà H nuôi dưỡng. Ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Ông bà trình bày không có, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí Hôn nhân gia đình: Nguyên đơn bà Trần Thị Kim H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Bà H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Duy T, có địa chỉ tại số nhà A tổ F, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai theo luật định nên căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, công nhận hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp.
[3] Qua đơn xin ly hôn của bà H, tại bản tự khai của các bên và lời trình bày tại các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cho thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T là có thật.
Mặc dù, xác minh mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương không nắm được. Tuy nhiên, quá trình làm việc, hoà giải và lời trình bày giữa bà H và ông T tại các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải đều thừa nhận cả hai đều có mâu thuẫn. Tuy nhiên, ông T không đồng ý ly hôn với bà H nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà H và ông T đều không có phương án để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ với nhau.
Nhận thấy mục đích hôn nhân giữa bà H và ông T không còn đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H, giải quyết cho bà H được ly hôn với ông T.
[4] Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Phạm Trần Tú U, sinh ngày 17/3/2016 và Phạm Thiên M, sinh ngày 10/5/2020. Từ khi bà H và ông T không còn chung sống với nhau, con do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống của cháu được ổn định, việc xem xét để ai trực tiếp nuôi con cần đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hiện nay, cháu U và cháu M đã trên 7 tuổi, có nguyện vọng được ở với bà H. Tại bản tự khai của ông T đồng ý giao cháu U và cháu M cho bà H nuôi dưỡng, do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu U và cháu M cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Ông bà trình bày không có, nên không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[8] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Trần Thị Kim H. Bà Trần Thị Kim H được ly hôn với ông Phạm Duy T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Trần Tú U sinh ngày: 17/3/2016 và cháu Phạm Thiên M, sinh ngày 10/5/2020 cho bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Ông Phạm Duy T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở bà H thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Các bên trình bày không có, nên không xem xét giải quyết.
- Án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà H đã nộp tại biên lai số 0002573 ngày 27/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Kim H và ông Phạm Duy T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phước Vinh |
Bản án số 124/2024/HNGĐ–ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 124/2024/HNGĐ–ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim Hiên, Bị đơn: Ông Phạm Duy Tú,
