Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày: 26-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Quang Bình

Ông Nguyễn Tấn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Vũ Tường Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Hoàng Thái Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Văn T (tên gọi khác: L), sinh ngày 09/9/1984, tại thành phố R, Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: số B, đường C, phường V, thành phố R, Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ E, ấp B, xã C, thành phố P, Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc L1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959; có vợ là Trần Bích H, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và 02 người con, sinh năm 2005 và năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ: ngày 30/01/2024, tạm giam ngày 08/02/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo T: Luật sư Đường Minh Q - Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (Có mặt).

- Người có quyền lợi liên quan: Bà Đào Kim N, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 30/01/2024 tại khu vực tổ H, ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Công an thành phố P phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh K kiểm tra Huỳnh Văn T đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 68BA - 085.60 phát hiện trong hộc xe bên trái, phía trước có 01 (một) bao thuốc lá hiệu S, bên trong có một bịch nylon màu trắng, có rãnh gài, viền màu đỏ, kích thước khoảng 4,2cm x 07cm chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma túy. Qua làm việc, Huỳnh Văn T khai nhận các hạt tinh thể trong bịch nylon màu trắng trên là chất ma túy, đang trên đường mang đến địa điểm để bán cho người có tên P, nên Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Huỳnh Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Huỳnh Văn T tại ấp B, xã C, thành phố P phát hiện 05 (năm) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài; 02 (hai) đoạn ống hút nhựa được hàn kín bên trong có các hạt tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma túy.

Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai nhận của T và những chứng cứ đã được thu thập đã có đủ chứng cứ chứng minh Huỳnh Văn T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau:

Vào khoảng giữa tháng 01/2024, Huỳnh Văn T gặp một người đàn ông tên Đ (không rõ tên thật và địa chỉ cụ thể) ở thành phố P, tỉnh Kiên Giang trao đổi về việc Đ giao ma túy cho T đi bán cho người khác để được hưởng tiền công từ 200.000₫ đến 300.000đ mỗi lần đi giao. Ngày 28/01/2024, Đ liên hệ kêu T đến khu vực phía trước nhà hàng N2 nhận 01 bọc màu xanh có 01 bịch ma túy, 01 cân điện tử và sim điện thoại có 03 số cuối 224. Sau đó, T đem ma túy, cân điện tử về phòng trọ cất giấu và lấy sim số gắn vào máy điện thoại nokia màu đen để liên hệ.

Đến khoảng 09 giờ ngày 30/01/2024, Đ điện thoại (3 số cuối là 440) kêu Huỳnh Văn T lấy cân 01 bọc ma túy 1,20 có giá 1.200.000đ đem bán cho người tên H1 (không rõ tên thật, địa chỉ), H1 sẽ đến địa điểm nhận ma túy và trả tiền cho Đ. T lấy ma túy bỏ vào trong bao thuốc lá hiệu Hero rồi mượn xe máy biển kiểm soát 68BA-085.60 của Đào Kim N đi đến địa điểm và để bịch ma túy tại gốc cây đào, phía sau quán ốc S, đường N, phường D, thành phố P rồi đi về.

Đến khoảng 16 giờ ngày 30/01/2024, Đ điện thoại kêu Huỳnh Văn T lấy bọc ma túy 100 số có giá 7.000.000₫ mang đến địa điểm và để bịch ma túy dưới hai cây cột đèn khu vực lò rượu thuộc ấp B, xã C, thành phố P để bán cho người tên P (không rõ tên thật, địa chỉ), P đến nhận ma túy và trả tiền cho Đ. T mượn xe mô tô biển kiểm soát 68BA-085.60 của Đào Kim N, lấy ma túy bỏ vào trong bao thuốc lá hiệu S, giấu vào hộc xe bên trái, phía trước để đi đến địa điểm Đ yêu cầu, nhưng trên đường đi thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ 01 (một) bọc nylon màu trắng, bên trong có chứa chất ma túy qua giám định là loại Methamphetamine, khối lượng 9,9625gam.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Huỳnh Văn T phát hiện thu giữ trong bọc nylon màu xanh có 05 (năm) bọc nylon màu trắng, 02 (hai) đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa chất ma túy qua giám định là loại Methamphetamine, khối lượng 60,7178 gam cùng 01 cân điện tử dùng để cân ma túy.

* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết tăng nặng: Bị can phạm tội 02 lần trở lên.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, các bị can thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; tự khai ra những lần phạm tội trước đó.

* Vật chứng thu giữ khi bắt và khám xét tại nhà trọ của T gồm:

  • - 01 (một) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài, viền màu đỏ, kích thước khoảng 4,2cm x 07cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu IPHONE, màu xám, số IMEI: 353650693636669, số IMEI 2:353650693514254, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) xe mô tô, hiệu HONDA, loại VISION, màu đen, biển kiểm soát: 68BA-085.60, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) vỏ hộp thuốc lá hiệu SAIGON, đã qua sử dụng.
  • - 04 (bốn) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài, viền màu đỏ.
  • - 01 (một) bịch nylon màu trắng, có rãnh gài; 02 (hai) đoạn ống hút có sọc hồng - trắng, được hàn kín; có nhiều kích thước khác nhau, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất; 01 (một) cân tiểu li màu đen, tất cả được đựng trong một túi nylon màu xanh, có quai cầm, đặt trên đầu tủ trong phòng bếp.

* Tại bản kết luận giám định số 122/KL-KTHS, ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:

  • - Gói 01: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 9,9625gam.
  • - Gói 02: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 05 (năm) bịch nylon và 02 (hai) đoạn ống hút được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 60,7178gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CT - VKSTKG-P1, ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang truy tố Huỳnh Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Văn T; Đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 16 đến 17 năm tù; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ hộp thuốc lá hiệu S đã qua sử dụng; 01 (một) cân tiểu li, màu đen, dạng chìa khóa xe ô tô, đã qua sử dụng; 01 (một) túi nylon màu xanh, có quai cầm đã qua sử dụng; 02 (hai) phong bì thư niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hoàng N1, người chứng kiến Trần Quang L2 và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K có ký hiệu vụ số 99/2024 Gói 1 và ký hiệu vụ số 99/2024 G; Trả lại cho bà Đ1 Kim Ngân 01 (một) xe mô tô biển số đăng ký 68BA - 085.60, hiệu HONDA, loại VISION, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, số IMEI: 353650693636669, số IMEI 2: 353650693514254, đã qua sử dụng.

* Bị cáo Huỳnh Văn T có ý kiến thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy như truy tố của Viện kiểm sát.

* Người bào chữa cho bị cáo T có ý kiến: Không có căn cứ kết luận bị cáo T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, mà hành vi T thực hiện là tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy; đề nghị xử bị cáo mức án nhẹ nhất có thể, nhẹ hơn mức Viện kiểm sát đề nghị, vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn T khai nhận bản thân đã thực hiện hành vi như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể khoảng giữa tháng 01/2024 Huỳnh Văn T thống nhất thỏa thuận với người tên Đ (không rõ tên thật và địa chỉ cụ thể) ở thành phố P, tỉnh Kiên Giang về việc Đ giao ma túy cho T đi bán cho người khác và được hưởng tiền công từ 200.000đ đến 300.000₫ mỗi lần đi giao. Ngày 30/01/2024, T hai lần đem ma túy giao cho người mua theo ý kiến của Đ, trên đường đi giao lần thứ hai thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định...Từ đó có cơ sở để kết luận hành vi bị cáo T thực hiện cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát. Bởi lẽ, mặc dù chưa xác định được người tên Đ như lời khai của bị cáo, nhưng từ chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai nhận của bị cáo có đủ cơ sở để xác định bản thân bị cáo đang giữ 70,6803gam ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích đem bán cho người khác để được hưởng lợi. Như vậy, bị cáo cùng với người tên Đ thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nên phải bị xử lý về tội mua bán trái phép chất ma túy. Đối với người tên Đ, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi của bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải bị xử lý theo quy định.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, nên có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện có sự ăn năn hối cải; tự khai nhận lần thực hiện hành vi phạm tội trước khi bị bắt quả tang mặc dù chưa bị phát hiện, nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, một phần ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, quyết định xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ phạm tội, để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định xử lý các vật chứng liên quan đến vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nêu trên, cụ thể:

Đối với ma túy và các vật dụng bị cáo dùng vào việc phạm tội đã bị thu giữ thì tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe và điện thoại di động bị cáo mượn của Đào Kim N để sử dụng, kết quả điều tra không có chứng cứ xác định Đào Kim N biết bị cáo mượn tài sản của mình để sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy, nên trả lại cho Đ1 Kim Ngân các tài sản này.

[6] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T (tên gọi khác: L) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T (tên gọi khác: L) 16 (Mười sáu) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ (ngày 30/01/2024).

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho Đ1 Kim Ngân các tài sản sau:

  • + 01 (một) chiếc xe mô tô; đặc điểm: hiệu Honda, loại Vision, màu đen, biển kiểm soát 68BA-085.60, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám, số Imei: 353650693636669, số Imei 2: 353650693514254, đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) cân tiểu li; đặc điểm: màu đen, dạng chìa khóa xe ô tô, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) túi nylon; đặc điểm: màu xanh, có quai cầm, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) vỏ hộp thuốc lá; đặc điểm: hiệu S, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật; đặc điểm: Phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N1, người chứng kiến Trần Quang L2 và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K có ký hiệu vụ số 99/2024 Gói 1.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật; đặc điểm: Phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N1, người chứng kiến Trần Quang L2 và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K có ký hiệu vụ số 99/2024 Gói 2.

(Các vật chứng trên, hiện Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐVKS-P1 ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và biên bản giao, nhận vật chứng giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang lập ngày 09/7/2024).

4. Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo T biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2024); Báo cho người có quyền lợi liên quan Đào Kim N biết có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - THA tỉnh KG (1)
  • - Cơ quan điều tra tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh KG (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Người có QL liên quan (1);
  • - Người bào chữa (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Lịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn Tr mua ma túy về bán lại bị bắt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger