Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 124/2024/HS-ST

Ngày: 13-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Lý Thành Trung

2/Ông Khưu Hán Quang

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lộc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 12 năm 204 tại Phòng xử trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11năm 204 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 204 đối với các bị cáo:

A; sinh năm 19 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 240/128/4 N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Khôngquốc tịch: Việt Namcon ông Lưu Minh T và bà Nguyễn Kim L; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: Ngày 21/8/2020, Tòa án nhân dân Quận 6 ra Quyết định số 220/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 31/10/2021, chấp hành xong Quyết định số 220/QĐ-TA của Tòa án nhân dân Quận 6; Ngày 09/8/2022, Tòa án nhân dân Quận 6 ra Quyết định số 19/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 28/10/2023, chấp hành xong Quyết định số 19/QĐ-TA của Tòa án nhân dân Quận 6.

Nhân thân: Năm 2017, “Cướp tài sản”, Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam theo bản án số 73/HSST ngày 30/5/2017. Đến ngày 24/8/2019, chấp hành xong bản án. Đương nhiên xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Phạm Ngũ Đông K; sinh năm 1987, tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi đăng ký thường trú: Số A H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: FORMTEXT Khôngquốc tịch: Việt Namcon ông Phạm Xuân C và bà Ngũ Thu H; Hoàn cảnh gia đình: vợ tên Lý Thị Cẩm L1 và có 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Chị Phạm Thị Vinh H1; sinh năm: 1983, chỗ ở: số C Đ, phường B, quận B (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày 15/7/2024, chị Phạm Thị Vinh H1 đi bộ bán vé số trên đường số H Cư xá B, Phường H, Quận A, trên tay chị H1 đang cầm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh. Khi đi bộ đến trước số C đường số H Cư xá B, Phường H, Quận A thì chị H1 bị Lưu Minh T1 điều khiển xe mô tô Honda Vision màu trắng biển số 59K2-464.87 áp sát dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax của chị H1, sau đó T1 tăng ga bỏ chạy. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày chị H1 đến Công an P2, Quận A trình báo nội dung vụ việc.

Quá trình điều tra xác định, khi chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị H1, T1 đem đến cửa hàng điện thoại di động KALI tại địa chỉ số C Hậu Giang, Phường E, Quận F để bán cho Phạm Ngũ Đông K. Khi T1 mang điện thoại đến bán, K có hỏi về nguồn gốc của chiếc điện thoại và mật khẩu màn hình thì T1 nói điện thoại này là do T1 vừa cướp giật được nên không biết mật khẩu. Khương vẫn đồng ý thu mua với giá 2.600.000 đồng. Số tiền có được từ việc bán điện thoại, T1 đã tiêu xài cá nhân hết. Do sợ bị phát hiện nên T1 đã bỏ trốn.

Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định truy tìm đối với Lưu Minh T1. Đến ngày 28/7/2024, Công an Q phối hợp với Công an xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà không số đường Q, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước và mời Lưu Minh T1 về Trụ sở Cơ quan Công an để làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Lưu Minh T1 thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Phạm Ngũ Đông K khai nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 15/7/2024, khi đang ở tiệm điện thoại KALI địa chỉ số C Hậu Giang, Phường E, Quận F thì có Lưu Minh T1 đến cửa hàng để bán 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh. Lúc này, K kiểm tra điện thoại di động Iphone 13 Promax trên thì thấy điện thoại có cài mật khẩu khóa màn hình nên hỏi T1 mật khẩu mở máy, thì T1 nói điện thoại vừa cướp giật được nên không biết mật khẩu. K đồng ý thu mua với giá 2.600.000 đồng và đưa tiền mặt cho T1. Sau khi mua chiếc điện thoại, K tháo ra để kiểm tra xem điện thoại có đúng là Iphone 13 promax hay không, khi kiểm tra thấy đúng, K lắp sơ bộ điện thoại lại do không ráp hoàn thiện nên điện thoại không mở được nguồn. Đến tối cùng ngày, K đưa chiếc điện thoại trên cho Võ Thanh H2 đi bán với giá 6.500.000 đồng, nếu H2 bán được giá cao hơn thì H2 được hưởng số tiền chênh lệch. H2 cầm điện thoại di động trên đi bán được giá 6.800.000 đồng và chuyển khoản cho K số tiền 6.500.000 đồng, còn lại 300.000 đồng K cho H2 như đã thỏa thuận. Khi đưa chiếc điện thoại trên cho H2 đem đi bán, K chỉ nói với H2 điện thoại trên là “máy xác”, chỉ lấy linh kiện để sửa chữa, chứ không nói cho H2 biết điện thoại trên là tài sản do T1 thực hiện hành vi phạm tội mà có.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, lời khai của Võ Thanh H2 phù hợp với lời khai của Phạm Ngũ Đông K, khi nhận điện thoại từ K, H2 đã đến địa chỉ số A đường C T, Phường F, Quận A để bán cho Nguyễn Đức T2 với giá 6.800.000 đồng, lúc này do T2 còn nợ H2 số tiền 1.200.000 đồng nên T2 chuyển cho H2 8.000.000 đồng và H2 chuyển lại cho K số tiền 6.500.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, lời khai của Nguyễn Đức T2 phù hợp với lời khai của Võ Thanh H2. Tiền không biết điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh mà H2 đem đến bán là tài sản do phạm tội mà có. Đồng thời, khi H2 đem đến bán cho T2 thì tình trạng điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh đã bị tháo màn hình, để lộ phần linh kiện bên trong và điện thoại không còn lên nguồn. Sau khi thu mua, T2 đã tháo cụm camera, màn hình của chiếc điện thoại để thay thế cho khách đến tiệm sửa điện thoại (Tiền không rõ lai lịch của người khách này), chỉ còn lưu giữ cụm vỏ và pin của điện thoại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành lập biên bản thu giữ.

Tài sản bị chiếm đoạt: 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax 128Gb màu xanh dương mua vào tháng 6/2022. Tại Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự xác định chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128Gb màu xanh dương tại thời điểm định giá ngày 15/7/2024 có giá trị 12.675.000 đồng.

Đối với xe mô tô Honda Vision màu trắng biển số 59K2-464.87 Thuận sử dụng để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Qua điều tra xác định chủ sở hữu là chị Lưu Bích H3 (sinh năm: 1992, chỗ ở: số B N, Phường A, Quận F), chiếc xe trên được chị H3 mua lại của anh Đặng Hiền T3 (sinh năm 1995, chỗ ở: số B L, Phường A, Quận D) vào ngày 21/4/2023, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ. Qua giám định xe Honda Vision biển số 59K2-464.87, số khung: 5833KZ460184, số máy: JF86E-5030213 do anh Nguyễn Công T4, C1 ở: số B T, Phường A, Quận F đứng tên chủ sở hữu. Anh Nguyễn Công T4 xác định chiếc xe trên do anh T4 mua vào ngày 13/8/2019 để sử dụng. Đến ngày 19/04/2023, T4 bán lại cho Đặng Hiền T3 và có công chứng hợp đồng ủy quyền xe máy trên cho anh T3. Qua làm việc, anh Đặng Hiền T3 cho biết đã bán lại chiếc xe trên cho Lưu Bích H3, khi bán xe có công chứng hợp đồng ủy quyền xe. Vào khoảng 10 giờ ngày 15/7/2024, khi H3 để xe máy Honda Vision biển số 59K2-464.87 ở tiệm sửa xe của Nguyễn Minh H4 (sinh năm: 2000) địa chỉ số B N, Phường A, Quận F thì Lưu Minh T1 (là em họ của H3) đến mượn xe máy trên để đi công việc. Sau đó, đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Minh H4 nói với H3 là T1 đã trả xe, do khách đến sửa xe đông không có chỗ để xe nên H4 đã nhờ Lê Quang P (sinh năm: 2007, chỗ ở: số B N, Phường A, Quận F) đem xe trên đi gửi tại chung cư S địa chỉ số B N, Phường A, Quận F. H3, H4 và P không biết việc Thuận sử dụng xe trên để đi cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị Lưu Bích H3.

Vật chứng của vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tạm giữ:

  • 01 cụm vỏ pin của điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh dương (một số bộ phận chưa thu hồi được);
  • 01 quần short jean màu xanh nhạt, 01 áo thun ngắn tay màu xanh nhạt là trang phục Lưu Minh T1 mặc khi thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản”;
  • 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro dung lượng 128Gb màu xanh, số IMEI: 353075119371594 là tài sản cá nhân của Phạm Ngũ Đông K không liên quan đến hành vi phạm tội;
  • Một USB chứa dữ liệu camera liên quan;
  • Một đĩa DVD nội dung hỏi cung bị can có ghi âm ghi hình (lưu hồ sơ vụ án).

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Phạm Thị Vinh H1 yêu cầu bồi thường số tiền 12.675.000 đồng.

Bản cáo trạng số 58/CT-VKSQ11 ngày 13 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Lưu Minh T1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, Khoản 2, Điều 171; bị cáo Phạm Ngũ Đông K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • Các bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
  • Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, giữ quan điểm như truy tố, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lưu Minh T1 mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù; đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Ngũ Đông K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm, đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:
    • Đề nghị buộc bị cáo Lưu Minh T1 bồi thường cho bị hại Phạm Thị Vinh H1 số tiền 12.675.000 đồng.
    • Đề nghị bị cáo Phạm Ngũ Đông K nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước.
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 cụm vỏ pin của điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh dương.
    • Tịch thu và tiêu hủy 01 quần short jean màu xanh nhạt, 01 áo thun ngắn tay màu xanh nhạt là trang phục Lưu Minh T1 mặc khi thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản”;
    • Trả lại cho Phạm Ngũ Đông K 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro dung lượng 128Gb màu xanh, số IMEI: 353075119371594, nhưng giao cho cơ quân thi hành án tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lưu Minh T1 đã khai nhận hành vi “Cướp giật tài sản” và bị cáo Phạm Ngũ Đông K đã khai nhận hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Q, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, tang vật thu giữ phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Lưu Minh T1 đã phạm tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và bị cáo Phạm Ngũ Đông K đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét hành vi của bị cáo Lưu Minh T1 là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị án xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Giữa nơi công cộng, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội rất táo bạo và liều lĩnh bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật. Mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo hết sức nguy hiểm bởi lẽ bị cáo sử dụng phương tiện phạm tội là xe gắn máy, là nguồn nguy hiểm cao độ khi thực hiện hành vi phạm tội, có thể dẫn đến tai nạn gây ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như tính mạng của người bị hại, những người xung quanh và ngay cả chính bản thân của các bị cáo. Do đó, phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc, cần thiết cách ly các bị cáo Lưu Minh T1 ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo Lưu Minh T1 trở thành người tốt hơn, sau này biết tôn trọng tài sản của người khác. Đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Đối với hành vi của bị cáo Phạm Ngũ Đông K cũng rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng còn gây trở ngại lớn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, tạo điều kiện khuyến khích những người khác phạm tội và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm. Đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Lưu Minh T1 có nhân thân xấu đã nhiều lần có tiền sự về hành vi sử dụng trái phếp chất ma túy và 01 tiền án về tội cướp tài sản. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo theo quy định điểm d, khoản 2, Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở và đúng quy định pháp luật. Đối với bị cáo Phạm Ngũ Đông K đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Lưu Minh T1 tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Phạm Ngũ Đông K Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có địa chỉ rõ ràng, trong thời gian tại ngoại bị cáo K đã chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo chỉ nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Đồng thời, qua đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo Phạm Ngũ Đ Khương khỏi xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung và phù hợp với quy định Điều 65 Bộ luật hình sự, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P3 đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn phạt bổ sung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay bị hại là chị Phạm Thị Vinh H1 vắng mặt nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy chị H1 yêu cầu bị cáo Lưu Minh T1 bồi thường cho chị số tiền 12.675.000 đồng tương đương chiếc điện thoại bị cướp giật, xét yêu cầu này là có cơ sở và không trái với quy định của pháp luật nen Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với số tiền 3.900.000 đồng, bị cáo Phạm Ngũ Đông K có được do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo K nộp lại đề sung Ngân sách Nhà nước.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 quần short jean màu xanh nhạt, 01 áo thun ngắn tay màu xanh nhạt là trang phục Lưu Minh T1 mặc khi thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro dung lượng 128Gb màu xanh, số IMEI: 353075119371594 đã qua sử dụng là tài sản riêng của Phạm Ngũ Đông P1 không liên quan dến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo K, nhưng giao cho cơ quan Thi hành án tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Đối với 01 cụm vỏ pin của điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh dương không còn sử dụng được nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu camera liên quan; 01 đĩa DVD nội dung hỏi cung bị can có ghi âm ghi hình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lưu Minh T1 phạm tội “Cướp giật tài sản” và bị cáo Phạm Ngũ Đông K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng Điều 50; điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

Lưu Minh T1 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2024.

Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

Phạm Ngũ Đông K 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Ngũ Đông K cho Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi địa chỉ thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng diều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

+ Buộc bị cáo Lưu Minh T1 có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại chị Phạm Thị Vinh H1 tổng số tiền 12.675.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Việc bồi thường được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày chị Phạm Thị Vinh H1 có đơn yêu cầu thị hành án, nếu bị cáo Lưu Minh T1 không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • Buộc bị cáo Phạm Ngũ Đông K nộp lại số tiền 3.900.000 đ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước.
  • Trả lại cho Phạm Ngũ Đông K 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro dung lượng 128Gb màu xanh, số IMEI: 353075119371594 đã qua sử dụng, nhưng giao cho cơ quan Thi hành án tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 cụm vỏ pin của điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh dương.
  • Tịch thu và tiêu hủy: 01 quần short jean màu xanh nhạt, 01 áo thun ngắn tay màu xanh nhạt. (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1028/LNK-ĐCSHS ngày 05/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu camera liên quan; 01 đĩa DVD nội dung hỏi cung bị can có ghi âm ghi hình.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo mỗi người phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Bị cáo Lưu Minh T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PV06 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Tô Đông Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 124/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Lưu Minh Thuận 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2024. Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Phạm Ngũ Đông Khương 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phạm Ngũ Đông Khương cho Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong trường hợp bị cáo thay đổi địa chỉ thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger