TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/HS-ST | |
Ngày: 21-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Việt Dũng – Phó Bí thư Huyện Đoàn Đại Từ
- Bà Đặng Thị Sinh – Công tác tại Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Đại Từ
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Thành Công – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Mạnh K, tên gọi khác: không; sinh ngày 16 tháng 6 năm 2007 (tính đến ngày phạm tội, K được 16 tuổi, 11 tháng, 02 ngày); giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm S, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1984, con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1987, chưa có vợ, con; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
+ Tại Quyết định số 38/QĐ-XPTT ngày 01/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với Nguyễn Mạnh K về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã là 04 tháng kể từ ngày 01/3/2023. Chấp hành xong ngày 01/7/2023.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)
* Người tham gia tố tụng khác:
1
+ Đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 (là mẹ đẻ của bị cáo)
Trú tại: Xóm S, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
+ Người bào chữa cho bị cáo do Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T cử:
- Ông Vũ Văn C (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Á (có mặt)
Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T
+ Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965
Địa chỉ: Xóm A, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
+Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1987
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987
- Anh Chu Xuân H, sinh năm 1987
Địa chỉ: Xóm A, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
Trú tại: Xóm S, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
Địa chỉ: TDP T, phường B, TP . (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 4 năm 2024, Nguyễn Mạnh K đem chiếc xe mô tô Biển kiểm soát (BKS) 20B2-42879 của K đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Sau đó, do K không có tiền chuộc xe nên anh Nguyễn Đình T1 (sinh năm 1989, trú tại: xóm A, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là cậu ruột của K) đã ứng số tiền 3.000.000₫ (ba triệu đồng) để chuộc xe hộ Khiêm. Sau khi chuộc xe xong, do K chưa trả anh T1 số tiền trên nên anh T1 giữ giấy tờ (giấy đăng ký xe mô tô), còn chiếc xe mô tô trên giao cho K quản lý, sử dụng. Nhưng sau đó, K lại tiếp tục đem chiếc xe mô tô nêu trên đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/5/2024, do muốn chuộc chiếc xe trên về để bán trả nợ anh T1 và tiêu xài cá nhân nên K đã gọi điện thoại cho anh T1 để lấy lại giấy Đăng ký xe mô tô để bán xe nhưng anh T1 không đồng ý. Lúc này, do biết anh T1 vắng nhà, K đã nảy sinh ý định đến nhà bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1965, trú tại xóm A, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là bà ngoại của K, hiện bà L đang ở cùng nhà với anh T1) để chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu trắng bạc, BKS: 20F1-702.85 (là xe của anh T1 đã giao cho bà L quản lý, sử dụng từ tháng 11 năm 2022) đem bán lấy tiền tiêu xài.
2
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/5/2024, K đến nhà bà L thì thấy chỉ có một mình bà L đang nằm ở giường trong nhà, còn chiếc xe mô tô đang dựng tại sân giếng. K hỏi bà L “Bà cho con mượn xe đi một tý". Do biết K hay đi chơi qua đêm không về nên bà L cất giấu chìa khóa xe mô tô vào túi quần đang mặc, không đồng ý cho K mượn xe. Thấy bà L không cho mượn xe nên K đi ra khu vực sân giếng, đến vị trí chiếc xe mô tô BKS 20F1-70285 thì thấy không có chìa khóa xe, K quay đầu xe ra phía cổng (mục đích để dắt xe đi ra ngoài để đấu lại nguồn điện để khởi động động cơ điều khiển xe đi) thì phát hiện xe bị khóa cổ. Khiêm bực tức lấy 01 chiếc ghế gỗ kích thước (31 x 16 x 10)cm tại sân đập 03 nhát vào mặt đồng hồ đo tốc độ của xe mô tô làm kính mặt đồng hồ bị vỡ. Nghe thấy tiếng Khiêm đập nên bà L đi từ trong nhà ra đứng tại hè nhà bếp thì thấy K đang ngồi trên yên xe mô tô rồi dùng chân đạp nhiều nhát vào tay lái của xe mô tô nhằm dọa sẽ phá hỏng xe để cho bà L sợ phải giao chìa khóa xe cho K nhưng bà L không đưa. Lúc này, K nhìn thấy miệng túi quần bà L đang mặc có chiếc móc chìa khóa xe mô tô, một tay bà L đang giữ vào miệng túi quần để giữ chìa khóa nên K đi đến dùng tay gạt tay của bà L ra rồi lấy chìa khóa, bà L kéo tay K lại thì K gạt tay bà L ra rồi đi đến mở khóa cổ, mở khóa điện, khởi động xe. Sau đó, K dắt xe mô tô đi ra. Thấy vậy, bà L đi đến giữ vào tay lái xe mô tô, K dùng tay gạt tay bà L ra. Lúc này, K ngồi lên xe điều khiển xe ra đến cổng cách nhà bà L khoảng 10m thì K đỗ xe, mở cốp xe lấy cờ lê tháo Biển kiểm soát ra cất vào trong cốp xe. Bà L biết bản thân sức khỏe yếu, không thể ngăn cản được K nên bà đứng ở sân gọi điện thoại cho anh T1 thông báo việc K lấy xe mô tô thì anh T1 nói “mẹ kệ nó đi, mẹ không giữ được nó đâu, mẹ làm sao lại khổ con”. Nghe anh T1 nói vậy nên bà L không ngăn cản K nữa. Sau khi tháo BKS xe mô tô xong, K điều khiển xe đi đến khu công nghiệp thuộc phường H thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để bán xe. Trên đường đi, khi đi đến đoạn đường thuộc xóm Đ, xã L, huyện Đ thì K gặp anh T1 đi xe mô tô đi hướng ngược chiều đến, anh T1 dừng xe rồi đi bộ đến chỗ K đỗ xe để yêu cầu trả xe nhưng K không trả, K nói “đéo”, rồi tăng ga điều khiển xe đi. Khi đi đến khu công nghiệp T phường H - thành phố P, K dừng xe, mở cốp ra thì thấy có có tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (là tiền của bà L để trong cốp xe từ trước) nên K lấy tiền cất vào trong túi quần, lấy BKS lắp vào xe mô tô rồi điều khiển xe đến quán “Cà phê H” tại Tổ dân phố M, phường H, thành phố P tỉnh Thái Nguyên bán chiếc xe mô tô nêu trên cho anh Chu Xuân H (sinh năm 1987, nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, là chủ quán) được số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Toàn bộ số tiền bán xe và số tiền 200.000₫ của bà L nêu trên K đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 20/5/2024, anh T1 đòi nhưng K không trả xe nên anh T1 có đơn trình báo Công an xã V.
Công an xã V đã kiểm tra, xác minh nơi xảy ra vụ việc, thu giữ đồ vật gồm:
+ 02 chiếc ghế bằng nhựa, màu đỏ, bị vỡ nát một phần (Do bà L giao nộp, bà L khai là ghế nghi K dùng để đập xe mô tô). (Niêm phong vào thùng catone ký hiệu K);
3
Ngày 22/5/2024, Công an xã V chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ để xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
Ngày 25/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ đã tiến hành cho K thực nghiệm hiện trường và thu giữ 01 chiếc ghế gỗ kích thước (31 x 16) cm, cao 10cm (K khai là chiếc ghế K dùng để đập vào mặt đồng hồ xe mô tô của anh T1). Cơ quan điều tra niêm phong chiếc ghế vào hộp catone ký hiệu G.
Ngày 25/5/2024, chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1987, trú tại: xóm S, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, là mẹ của K) giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc xe mô tô BKS:20F1-702.85 nêu trên. Chị T khai đây là chiếc xe của anh T1 bị K chiếm đoạt, đem bán cho anh Chu Xuân H nên chị T đã đi chuộc về và giao nộp cho cơ quan điều tra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 26 ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Tại thời điểm tháng 5/2024:
+ Giá trị của 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn trắng bạc, Biển kiểm soát: 20F-70285 có giá 12.000.000₫.
+ Giá trị phần hư hỏng của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, BKS:20F1-70285 có giá 800.000₫.
Vật chứng của vụ án gồm:
+ 01 xe mô tô BKS: 20F1-702.85 đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại anh T1 (chủ sở hữu).
+ 02 ghế nhựa, 01 chiếc ghế gỗ: Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 đã nhận lại tài sản, bà L đã nhận tiền bồi thường xong và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K.
Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKSĐT ngày 26/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Mạnh K về tội: “Cướp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh K phạm tội: “Cướp tài sản"; đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Mạnh K từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2 chiếc ghế nhựa và 01 chiếc ghế gỗ.
Về phần dân sự: Không giải quyết
-Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
4
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội.
Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tính hợp pháp của quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 18 tháng 5 năm 2024, tại nhà của gia đình bà Nguyễn Thị L thuộc xóm A, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Mạnh K (sinh ngày 16/6/2007, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội K được 16 tuổi, 11 tháng, 02 ngày) đã thực hiện hành vi cướp tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS:20F1-702.85 có giá trị 12.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị L là bà ngoại của K được anh Nguyễn Đình T1 là cậu ruột của K giao xe cho quản lý sử dụng. Tài sản đã được thu hồi trả lại chủ sở hữu quản lý sử dụng. Về trách nhiệm dân sự, các bên đã giải quyết xong.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với: Đơn trình báo, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
5
Vì vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội: “Cướp tài sản" theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung các điều luật quy định như sau:
Điều 168 quy định:
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, người đại diện hợp pháp của bị cáo đã tự nguyện khắc phục thiệt hại, trả lại tài sản cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4]. Về hình phạt:
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo còn nhỏ tuổi nên nhận thức pháp luật còn chưa đầy đủ, phạm tội mang tính chất bột phát. Khi phạm tội, bị cáo mới được 16 tuổi 11 tháng, 02 ngày nên theo nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi nói riêng, do vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 168 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
6
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường hoặc sửa chữa bộ phận của chiếc xe bị hư hỏng; bà L đã nhận lại số tiền 200.000đ và không có yêu cầu gì; bà T là mẹ của bị cáo không có yêu cầu gì đối với số tiền đã chuộc xe cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án.
[6]. Vật chứng của vụ án:
Đối với 01 xe mô tô BKS: 20F1-702.85 đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trả lại anh T1 (chủ sở hữu). Anh T1 không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
Đối với số tiền 200.000đ, bà L đã được nhận lại và không có yêu cầu gì.
Đối với 02 ghế nhựa mà bà L từ giao nộp, 01 chiếc ghế gỗ cơ quan điều tra thu giữ tại gia đình bà L, bà L xác định những đồ vật này đã bị hư hỏng và không yêu cầu được nhận lại. Xét thấy, 2 chiếc ghế nhựa không còn giá trị, chiếc ghế gỗ là vật chứng vụ án cũng không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Xét đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo về việc cho bị cáo được hưởng quy định của Bộ luật Hình sự đối với người phạm tội khi chưa thành niên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 98, khoản 1 Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh K phạm tội “Cướp tài sản”.
- 1.Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Mạnh K 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- 2. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết
- 3. Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp niêm phong ký hiệu K (bên trong có 02 chiếc ghế nhựa màu đỏ) và 01 hộp niêm phong ký hiệu G (bên trong có 01 chiếc ghế gỗ).
7
(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ).
- 4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Mạnh K phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
- 5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Thị An |
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Bản án số 124/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về cướp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 124/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Mạnh Khiêm phạm tội “ Cướp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Mạnh Khiêm 21 (hai mươi mốt) tháng tù.
