TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 124/2024/HS-PT Ngày: 21- 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Duy Hoài
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Thư ký phiên tòa:Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 135/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo K' Đạt do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 103/2024/HS-ST ngày 14-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: K' Đ, sinh năm: 2003 tại: Lâm Đồng. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nơi tạm trú: đường H, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Cơ-Ho; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tou Prong Đ, sinh năm: 1976 và con bà K' Thuyên, sinh năm: 1979; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Tại Quyết định số 111/QĐ-XPHC ngày 19-6-2020 của Công an huyện L xử phạt bị cáo số tiền 1.250.000 đồng về hành vi: “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”.
- Tại Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 20-3-2021 của Công an huyện L xử phạt bị cáo số tiền 1.250.000 đồng vê hành vi: “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25-01-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo
Bị hại có kháng cáo: anh Hồ Đăng Q, sinh năm: 1996; nơi cư trú: số I Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 15-10-2023 tại nhà của ông K'Thành V, sinh năm: 2001; nơi cư trú: thôn G, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng có tổ chức đám cưới, trong lúc uống rượu giữa K' Đạt và Hồ Đăng Q, sinh năm: 1996; nơi cư trú: số I Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xảy ra mâu thuẫn cá nhân, trong tiệc cưới K' Đ đã lấy dao Thái Lan có sẵn trên bàn đâm vào vùng bụng của anh Hồ Đăng Q theo hướng từ trước vào bụng. Hậu quả: Anh Hồ Đăng Q phải cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh L.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an huyện Đ tiến hành ghi nhận hiện trường, xác minh hiện trường xác định các vị trí xảy ra vụ việc và ghi lời khai bị hại, những người liên quan, trưng cầu giám định thương tích.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 621/KLTTCT-PYLÐ ngày 04-12-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định đối với Hồ Đăng Q là 42% (Bốn mươi hai phần trăm), tổn thương do vật sắc gây nên.
Qua làm việc, K' Đ đã thừa nhận hành vi dùng dao thái lan gây thương tích cho anh Hồ Đăng Q.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại Hồ Đăng Q số tiền 40.000.000 đồng, bị hại làm đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm.
Vật chứng của vụ án: 01 con dao thái lan dài 30cm, cán dao bằng nhựa màu vàng.
Tại Cáo trạng số: 105/CT-VKS ngày 17-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã truy tố bị cáo K’ Đ về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 103/2024/HS-ST ngày 14-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng đã:
Tuyên bố: bị cáo K’ Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo K' Đạt 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-01-2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17-6-2024 bị hại Hồ Đăng Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K' Đạt; ngày 22-6-2024 bị cáo K' Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo K' Đ và bị hại Hồ Đăng Q giữ nguyên kháng cáo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị:
Cấp phúc thẩm xem xét áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” là tình tiết định tiết định khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự mà không áp dụng là tình tiết định tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như cấp sơ thẩm đã áp dụng. Cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt 06 năm 06 tháng tù là tương xứng nên đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[3] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì thêm đối với hành vi, hoạt động tố tụng trong giai đoạn sơ thẩm; bị cáo khai và thừa nhận diễn biến hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của của bị hại, người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ, ngày 15-10-2023 tại nhà của ông K' Thành Vũ thuộc địa chỉ: thôn G, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong đám cưới, bị cáo K’Đ đã sử dụng dao là hung khí nguy hiểm tấn công và gây thương tích cho anh Hồ Đăng Q với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo kết luận giám định là 42%. Bị cáo K' Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng chỉ vì say sỉn vẫn bất chấp sử dụng dao tấn công anh Hồ Đăng Q dẫn đến tỉ lệ tổn thương cơ thể 42%, cấp sơ thẩm kết án bị cáo K’ Đ về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng tội danh, không oan.
Khi thực hiện hành vi gây thương tích, bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm; phạm tội có tính chất côn đồ, lẽ ra cấp sơ thẩm phải áp dụng 02 tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, sau đó xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự mới đúng quy định. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chỉ áp dụng tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a (Dùng hung khí nguy hiểm) khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, còn đối với tính tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” lại xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự (Các tình tiết đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tiết tăng nặng). Vì vậy, cấp phúc thẩm cần sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phúc thẩm nhằm xác định và kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự cho đảm bảo đúng quy định trên. Đồng thời, kiến nghị cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm đối với thiếu sót này.
[4] Về hình phạt và kháng cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội rất nghiêm trọng. Nhân thân bị cáo từng 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác, nay lại phạm tội xâm phạm đến khách thể là tính mạng, sức khỏe; việc này cho thấy bị cáo có xu hướng sử dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn trong cuộc sống thường nhật. Bị cáo bị áp dụng 02 tình tiết định khung hình phạt như đã đánh giá tại phần tội danh, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 06 năm 06 tháng tù là xác đáng, tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; giúp giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, bảo đảm công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bị hại có mặt, một lần nữa tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời xác nhận với Hội đồng xét xử phúc thẩm việc kháng cáo và xin giảm nhẹ là tự nguyện, không ai ép buộc. Bên cạnh đó, bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới là Huân chương kháng chiến của bà Ka D có quan hệ là bà ngoại của bị cáo nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Sau khi cân nhắc thêm tình tiết giảm nhẹ và để thể hiện sự khoan hồng của của pháp luật cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, sửa án bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo và bị hại được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo K' Đ và bị hại anh Hồ Đăng Q; sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo K' Đ.
Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo K’ Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo K' Đạt 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-01-2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo cáo K’ Đạt, bị hại Hồ Đăng Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Công Hoàn |
Bản án số 124/2024/HS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 124/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo; giảm một phần mức hình phạt
