Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 124/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Phương, bà Trịnh Thị Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân - Thư ký Toà án tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 12/9/2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/7/2024 về “Tranh chấp Hôn nhân gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: - Chị Nguyễn Thị H1, sinh ngày 05/5/1995. Địa chỉ: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: - Anh: Hồ Đình S, sinh ngày 02/9/1988. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống tại Đài Loan. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị H1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H1 và anh Hồ Đình S có đăng ký kết hôn vào ngày 12/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân do hai bên tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà chồng. Năm 2020, chị H1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, ít quan tâm đến nhau. Đến năm 2022, anh S cũng đi sang Đài Loan làm ăn nhưng vợ chồng không liên lạc, không gặp nhau và sống ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị H1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Hồ Đình S.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 01 con chung tên là Hồ Thành T, sinh ngày 23/01/2017. Nguyện vọng của chị H1 là muốn được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con.

Cháu Hồ Thành T có nguyện vọng được sống cùng với mẹ.

- Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Nguyễn Thị H1 đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án vì lý do công việc.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã K, huyện K cũng như về làm việc với gia đình anh Hồ Đình S tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Qua làm việc với ông Hồ Văn N (bố anh S), được biết:

Chị Nguyễn Thị H1 và anh Hồ Đình S có đăng ký kết hôn vào ngày 12/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân do hai bên tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà chồng. Năm 2020, chị H1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, ít quan tâm đến nhau. Đến năm 2022, anh S cũng đi sang Đài Loan làm ăn nhưng vợ chồng không liên lạc, không gặp nhau và sống ly thân từ đó đến nay. Việc chị H1 có làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, gia đình đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và có thông tin cho anh S biết. Trao đổi lại với gia đình, anh S tùy vào quyết định của chị H1 và anh không có ý kiến gì về việc ly hôn cũng như nuôi con. Còn các vấn đề về tài sản và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, anh S đang lao động tự do tại Đài Loan, ít khi liên lạc về với gia đình cũng như không cung cấp được địa chỉ. Việc tiếp nhận các giấy tờ, thủ tục từ tòa án ông Hồ Văn N sẽ nhận thay đồng thời sẽ thông tin lại cho anh S biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; đoạn 2 điểm b tiểu mục 2.1, mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, xử:

  • - Về tình cảm: chị Nguyễn Thị H1 được ly hôn anh Hồ Đình S.
  • - Về con chung: Giao con chung Hồ Thành T, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Nguyễn Thị H1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Hồ Đình S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Chị Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại công văn số 686/PA08-Đ1, ngày 18/7/2024 của Phòng Q1 - Công an tỉnh H, về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Hồ Đình S như sau: anh Hồ Đình S, sinh ngày 02/9/1988, địa chỉ tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; ngày 30/6/2022 được Cục A cấp hộ chiếu K0551358, đã sử dụng hộ chiếu xuất cảnh ngày 24/10/2022 qua sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo thông tin từ người nhà anh S cung cấp hiện tại anh đang lao động tại Đài Loan. Tại thời điểm thụ lý vụ án, anh S đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Theo Công văn số 253/TANDTC-PC, ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ và Nghị Q số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân, địa chỉ của anh Hồ Đình S qua ông Hồ Văn N là bố của anh S. Ông cho biết hiện tại anh S lao động tự do tại Đài Loan và thỉnh thoảng có liên lạc về gia đình, địa chỉ cụ thể ông không biết. Gia đình đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và có trao đổi cho anh S được biết, việc tiếp nhận các giấy tờ, thủ tục từ tòa án ông Hồ Văn N sẽ nhận thay đồng thời sẽ thông tin lại cho anh S.

Tòa án gửi công văn đề nghị ban Đ đăng thông tin cho anh Hồ Đình S. Đ đã đăng thông tin cho anh S trong 3 ngày liên tiếp từ ngày 29,30,31/7/2024 nhưng anh S không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Chị H1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt chị H1, anh S theo quy định tại Điều 238, 477 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H1 và anh Hồ Đình S có đăng ký kết hôn vào ngày 12/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của chị H1 hiện vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Theo thông tin bố anh S cung cấp thì anh S đã biết việc chị H1 làm đơn ly hôn, anh tùy vào quyết định của chị H1 và anh không có ý kiến gì về việc ly hôn cũng như nuôi con. Như vậy, anh Hồ Đình S không có ý định níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ, yêu thương lẫn nhau. Nhưng, giữa chị H1 và anh S không còn tình cảm, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị H1 xử cho chị được ly hôn với anh Hồ Đình S.

[2.2] Về con chung: Giao con chung Hồ Thành T, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Nguyễn Thị H1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Hồ Đình S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự xác định không có tài sản chung nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Về án phí: Chị Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị H1 và anh Hồ Đình S có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; đoạn 2 điểm b tiểu mục 2.1, mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H1 được ly hôn với anh Hồ Đình S
  2. Về con chung: Giao con chung Hồ Thành T, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Nguyễn Thị H1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Hồ Đình S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H1 tự nguyện nộp 150.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000010 ngày 08/7/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh). Chị Nguyễn Thị H1 được nhận lại 150.000 đồng.
  4. Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc chị Nguyễn Thị H1 phải chịu 2.250.000đ tiền lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Chị H1 đã nộp đủ.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Kỳ Khang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Ngọc Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 124/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger