Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập–Tự do–Hạnh phúc

Bản án số: 124/2023/HS-ST

Ngày: 26 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng.
  • -Các hội thẩm nhân dân.
    1. Bà Huỳnh Kim Phượng.
    2. Ông Võ Thế Khoa.
  • -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
  • -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Bà Phạm Thị Diễm Thúy– Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 120/ 2023/ TLST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với:

-Bị cáo:

  1. Phan Ngọc T, sinh ngày: 03/5/1995. Tên gọi khác: Không. Tại: Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Ngọc Ẩ, sinh năm: 1958 ( đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm: 1958 ( chết); Anh chị em ruột: 05 người, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất là bị cáo;

Tiền sự: 01. Ngày 01/4/2021 Tòa án nhân dân huyện Long Hồ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 25/5/2023.

Tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 14/9/2010 Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 01/8/2012.

Ngày 05/11/2012 Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi gây gối trật tự công cộng. Chấp hành xong ngày 14/11/2014.

Ngày 10/3/2017 Tòa án nhân dân huyện Long Hồ ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vò cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 24/12/2019.

Ngày 15/6/2020 Công an xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành nộp phạt ngày 17/6/2020.

Ngày 30/8/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị tạm giữ. Ngày 02/9/2023 khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay.

  1. Dương Lan T1, sinh ngày 05/5/2004. Tên gọi khác: Không. Tại: Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Phước T2, sinh năm: 1981 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1983; Anh chị em ruột: 02 người, lớn nhất là bị cáo nhỏ nhất sinh năm: 2006; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Ngày 30/8/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị tạm giữ. Ngày 02/9/2023 khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Ngọc T và Dương Lan T1 là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Loại ma trúy T và T1 sử dụng là M.

T bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 11/2016, nguồn ma túy trước đây T sử dụng là do người bạn tên V không rõ nhân thân cho. V có nói cho T biết khoảng 2-3 giờ khuya tại khu vực cầu P có người bán ma túy.

T1 thì bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 7/2023, nguồn gốc ma túy trước đây T1 sử dụng do người bạn tên T4 không rõ nhân thân cho.

Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 29/8/2023 T1 đến nhà của T thuộc ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long chơi và ngủ tại nhà Trường. Đến khoảng 03 giờ ngày 30/8/2023 T muốn sử dụng ma túy nên rủ T1 đi đến khu vực cầu P cùng mua ma túy về sử dụng thì T1 đồng ý.

Sau đó T và T1 đi bộ đến khu vực cầu P thuộc ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long gặp 01 người nam thanh niên không rõ nhân thân mua 500.000 đồng ma túy. T lấy tiền của cá nhân T đưa cho người nam, người nam vứt 01 bịch nylon bên trong chứa 05 bịch ma túy xuống đường gần chỗ T1 đứng. T1 nhặt bịch ma túy cầm trên tay và cùng T đi về nhà Trường. Khi về đến nhà Trường lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đưa T1, T1 lấy 01 bịch ma túy vừa mua được đổ 01 phần vào bộ dụng cụ ma túy để T và T1 sử dụng, phần còn lại T1 cất vào hộp nhựa để trong phòng T.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp với Công an xã H kiểm tra nhà của T phát hiện trong phòng ngủ của T có 01 chai nhựa màu trắng có gắn ống hút nhựa màu trắng, lúc này T1 tự nguyện giao nộp 01 hộp nhựa màu trắng bên trong hộp có chứa 05 bịch nylon bên trong chứa ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thu giữ 01 chai nhựa màu trắng có gắn ống hút nhựa màu trắng, 05 bịch ma túy cùng 01 điện thoại di động của Phan Ngọc T hiệu ViVo, kiểu máy V2025, có thẻ sim số 0776863514, số IMEI sim 866243059896497 và 01 điện thoại di động của Dương Lan Thanh hiệu Samsung galaxy A01, kiểu máy SM-AO15F/DS có thẻ sim số 0901217805, số IMEI sim 359471102963816.

Căn cứ vào kết quả giám định số: 617/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 05 bịch nylon được niêm phong trong phong bì thu giữ của T, T1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8287 gam loại Methaphetamine.

Riêng đối với hành vi của người nam thanh niên bán ma túy cho T và T1. Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đang tiếp tục xác minh làm rõ. Khi nào xác định được đối tượng sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số 126/CT-VKSLH ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Phan Ngọc T, Dương Lan T1 về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

-Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng. Quá trình điều tra không có ai ép cung các bị cáo.

-Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ vẫn giữ quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Phan Ngọc T, Dương Lan T1. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Ngọc T, Dương Lan T1 phạm tội“ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Ngọc T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2023.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Lan T1 mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2023.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo T và T1 do không có nghề nghiệp ổn định.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 617/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh V sau khi giám định còn lại 0,7301gam; 01 chai mũ nhựa màu trắng có gắn ống nhựa màu trắng ( dụng cụ sử dụng ma túy tự chế).

Đề nghị hoàn trả cho bị cáo Phan Ngọc T: 01 điện thoại di động vỏ ốp nhựa màu xanh bóng tím, hiệu máy ViVo, kiểu máy V2025, có thẻ sim số 0776863514, số IMEI sim 866243059896497 của Phan Ngọc T.

Đề nghị hoàn trả cho bị cáo Dương Lan T1: 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A01, vỏ ốp lưng màu xanh, kiểu máy SM-AO15F/DS có thẻ sim số 090.121.7xxx, số sêri R9JMC4SHGJ, số IMEI sim 359471102963816 của Dương Lan T1.

(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày16/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ).

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

-Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo T và bị cáo T1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2].Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:

Ngày 30/8/2023 Phan Ngọc T cùng Dương Lan T1 đến khu vực ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long để mua 05 bịch ma túy loại Methamphetamine của người nam thanh niên không rõ nhân thân nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Sau khi mua, T và T1 sử dụng một phần, phần còn lại T1 và T tiếp tục cất giấu tại nhà của T thuộc ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long nhằm mục đích tiếp tục sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp với Công an xã H kiểm tra nhà của T phát hiện Trường và T1 tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra T và T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Do đó có đủ căn cứ để xác định hành vi của Phan Ngọc T, Dương Lan T1 đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố là đúng người đúng tội.

[3].Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo là người nghiện ma túy, các bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, việc sử dụng ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, làm ảnh hưởng đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo đã có hành vi mua ma túy về sử dụng và cất giấu nhằm mục đích để sử dụng cá nhân. Do đó cần phải có 01 hình phạt thích đáng để răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Trong vụ án có đồng phạm: Trong đó bị cáo T là người rủ bị cáo T1 mua ma túy về cùng nhau sử dụng, sau khi T1 đồng ý thì cả hai bị cáo đến khu vực cầu P, T lấy tiền của cá nhân T mua ma túy, sau khi mua xong cả 02 đem về nhà của T cùng nhau sử dụng, số còn lại thì cất giấu để sử dụng tiếp nhưng chưa sử dụng thì bị bắt.

Về nhân thân bị cáo T là người có nhân thân xấu, nhiều lần được đưa vào trại giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện với nhiều hành vi vi phạm khác nhau, trong đó có hành vi liên quan đến ma túy, nhưng sau khi chấp hành xong bản thân bị cáo không biết sửa chữa mà lại tiếp tục vi phạm. Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.

[4]. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra bị cáo T1 có ông ngoại được Nhà nước phong tặng huân chương kháng chiến, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng được thu giữ liên quan đến việc phạm tội tịch thu tiêu hủy; đối với đồ vật không liên quan đến việc phạm tội trả lại cho các bị cáo.

[7].Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc T, Dương Lan T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Ngọc T 02 ( Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2023.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Dương Lan T1 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2023.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 617/KL-KTHS ngày 01/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh V sau khi giám định còn lại 0,7301gam; 01 chai mũ nhựa màu trắng có gắn ống nhựa màu trắng ( dụng cụ sử dụng ma túy tự chế).

Trả lại cho bị cáo Phan Ngọc T: 01 điện thoại di động vỏ ốp nhựa màu xanh bóng tím, hiệu máy ViVo, kiểu máy V2025, có thẻ sim số 0776863514, số IMEI sim 866243059896497 của Phan Ngọc T.

Trả lại cho bị cáo Dương Lan T1: 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A01, vỏ ốp lưng màu xanh, kiểu máy SM-AO15F/DS có thẻ sim số 090.121.7xxx, số sêri R9JMC4SHGJ, số IMEI sim 359471102963816 của Dương Lan T1.

(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Ngọc T, Dương Lan T1 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND tỉnh Vĩnh Long;(đã ký)
  • -VKSND huyện Long Hồ;
  • -CC THADS huyện Long Hồ;
  • -Công an huyện Long Hồ;
  • -Nhà tạm giữ CA huyện Long Hồ;
  • -Phòng hồ sơ CA tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • -UBND xã Hòa Phú-LH-VL;
  • -UBND xã Thiện Mỹ-Trà Ôn-VL
  • -Bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 124/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 124/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger