|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 124/2023/HS-PT Ngày 07/12/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Thanh Tùng.
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2023/TLPT-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo Nguyễn Phước T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phước T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Phước T, sinh ngày 04/12/1994, tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Số G tổ A, ấp T, xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Hớt tóc; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1973 và bà Đỗ Thị L, sinh năm 1973; vợ tên Lương Thị P và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/5/2023 cho đến nay (Bị cáo có mặt).
Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Hội đồng xét xử không triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm: Bà Trần Thị M, Trần Tiến D, Đặng Hoàn C1, bà Trịnh Thu N, ông Dưỡng Hữu C2, ông Dương Hữu V, bà Hồ Thị H, ông Nguyễn Đình L1, ông Nguyễn Đình L2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 16/4/2023 bị cáo Nguyễn Phước T, sinh ngày 04/12/1994 (địa chỉ số G tổ A, ấp T, xã P, TP ., tỉnh Kiên Giang) điều khiển xe ô tô biển số 68A – 078.58 đi trên tuyến đường quốc lộ 61B, theo hướng từ huyện T về thị xã N với tốc độ khoảng 40-50km/h. Khi đến khu vực ấp T, xã L, thị xã N, bị cáo Nguyễn Phước T điều khiển xe ô tô cho lấn sang làn đường bên trái, để vượt lên chiếc xe mô tô chạy phía trước cùng chiều, khi đó bị hại Nguyễn Đình L3 điều khiển xe mô tô biển số 83E1- 113.71 chở Trần Tiến D (ngồi sau) đi từ hướng trung tâm thị xã N vừa chạy đến, thì bị cáo Nguyễn Phước T không kịp thời xử lý tình huống, nên chiếc xe ô tô biển số 68A – 078.58 do bị cáo Nguyễn Phước T điều khiển đã va chạm vào chiếc xe mô tô biển số 83E1- 113.71 dẫn đến tai nạn giao thông, làm cho Nguyễn Đình L3 ngã té xuống mặt đường tử vong tại chỗ, còn Trần Tiến D bị thương và được đưa đến Trung tâm y tế thị xã N để cấp cứu điều trị.
Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 94/KLGĐTT-KTHS, ngày 29/4/2023 của Phòng K CA tỉnh S. Kết luận nạn nhân Nguyễn Đình L3 bị các vết thương chính qua giám định: “Trên cơ thể có nhiều vết thương; Sọ trán bị vỡ, lún phức tạp thành nhiều mãnh; Xương đùi bên phải bị gãy hoàn toàn ở đoạn 1/3 giữa. Nguyên nhân tử vong: Sốc đa chấn thương”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2023/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
“Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án hoặc bị cáo tự nguyện thi hành án...”
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Đến ngày 20/9/2023, bị cáo Nguyễn Phước T nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, với các lý do: Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 190.000.000 đồng và gia đình bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo; cha bị cáo có nhiều thành tích trong công tác tại địa phương được Chủ tịch thành phố tặng nhiều giấy khen; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo yêu cầu xem xét giải quyết cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Phước T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến: Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử phạt bị cáo 09 tháng tù là tương xứng với tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm không có phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới đối với bị cáo do vậy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là chưa có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, bị cáo có đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật được hưởng án treo, đại diện bị hại có đơn bãi nại, do vậy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, nên đề nghị chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phước T là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Phước T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 16/4/2023 bị cáo Nguyễn Phước T, điều khiển xe ô tô biển số 68A – 078.58 đi trên tuyến đường quốc lộ 61B, theo hướng từ huyện T về thị xã N. Khi đến khu vực ấp T, xã L, thị xã N, bị cáo điều khiển xe ô tô cho lấn sang làn đường bên trái, để vượt lên chiếc xe mô tô chạy phía trước cùng chiều, đã va chạm xe mô tô biển số 83E1- 113.71 do bị hại Nguyễn Đình L3 điều khiển chở Trần Tiến D (ngồi sau) đang chạy hướng ngược lại. Tai nạn giao thông, làm cho bị hại Nguyễn Đình L3 tử vong tại chỗ, còn Trần Tiến D bị thương nhẹ.
- Bị cáo Nguyễn Phước T có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định của pháp luật, nhưng bị cáo điều khiển xe lấn sang làn đường bên trái, vượt xe cùng chiều không đảm bảo an toàn giao thông dẫn đến gây tai nạn là vi phạm khoản 11 Điều 8 và khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm của bị cáo đã dẫn đến hậu quả bị hại Nguyễn Đình L3 bị tử vong. Do vậy, bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét nội dung kháng cáo của bị cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đánh giá về tính chất và hậu quả của hành vi phạm tội và quyết định mức hình phạt 09 (chín) tháng tù là dưới khung hình phạt đối với hành vi phạm của bị cáo. Nay bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với các lý do đã được cấp sơ thẩm xem xét đánh giá khi quyết định mức hình phạt, tại cấp phúc thẩm không có phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gì mới, vì vậy kháng cáo của bị cáo là chưa có cơ sở chấp nhận. Xét thấy, mức hình phạt và loại hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đảm bảo tính răn đe, đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm liên quan đến giao thông đường bộ tại địa phương, vì vậy việc bị cáo đề nghị được hưởng án treo là không được chấp nhận.
- Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm theo quy định khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phước T.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 31/2023/HS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T 09 (chín) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án hoặc bị cáo tự nguyện thi hành án.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Nhuận |
Bản án số 124/2023/HS-PT ngày 07/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 124/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
