Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 123C/2024/HS-ST

Ngày 29-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Thiều Quang - Giáo viên
  2. Ông Đồng Văn Diện - Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  • * 1. Họ và tên: Chu Tuấn D, sinh năm 1996
  • - Nơi thường trú: tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - Nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
  • - Con ông Chu Văn S, sinh năm 1964 và bà Lê Thị T, sinh năm 1969 Bị cáo có vợ là Đồng Thị V, sinh năm 1994 và 01 con.
  • - Tiền án, tiền sự: không;
  • - Nhân thân: không
  • - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh B – Có mặt tại phiên tòa.
  • * 2. Họ và tên: Vũ Đức D1, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2007.
  • - Nơi thường trú: tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • - Nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
  • - Con ông Vũ Văn Q, sinh năm 1986 và bà Triệu Thị T1, sinh năm 1986. Bị cáo chưa có vợ con;
  • - Tiền án, tiền sự: không;
  • - Nhân thân: Ngày 28/10/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 04 (bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Chưa được xóa án tích).
  • - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh B – Có mặt tại phiên tòa.
  • * Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Đức D1: Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1986 (bố đẻ) và bà Triệu Thị T1, sinh năm 1986 (mẹ đẻ).
  • Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Có mặt tại phiên tòa.
  • * Người bào chữa cho bị cáo Vũ Đức D1: Bà Nguyễn Hải L – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B – Có mặt tại phiên tòa.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • + Anh Hoàng Thiện Q1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (SĐT: 0383.968.xxx) – Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Chị Trương Thị G, sinh ngày 19/6/2006. ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang. Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (SĐT: 0353.014.xxx) - Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Chị Hoàng Thị Hồng N, sinh ngày 27/10/2007. Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (SĐT: 0394.508.xxx) - Vắng mặt
  • Người đại diện hợp pháp của chị Hoàng Thị Hồng N: Ông Hoàng Khắc H, sinh năm 1984 (bố đẻ) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987 (mẹ đẻ). Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (SĐT: 0971.765.xxx) - Vắng mặt.
  • + Anh Đỗ Văn D2, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (SĐT: 0922.250.xxx) - Vắng mặt.
  • + Chị Ma Thị T2, sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (SĐT: 0832.955.xxx) - Vắng mặt
  • + Anh Phạm Văn T3, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái - Vắng mặt.
  • + Anh Thân Quang T4, sinh ngày 24/9/2004. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (SĐT: 0329.329.xxx) - Vắng mặt.
  • + Anh Hà Văn C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (SĐT: 0395.747.xxx) - Vắng mặt.
  • * Những người tham gia tố tụng khác: Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là người dưới 18 tuổi sinh sống, lao động, học tập:
  • + UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Văn M – Chủ tịch UBND xã (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + UBND xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Văn P – Chủ tịch UBND xã (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 09/7/2024, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý - Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện L kiểm tra, phát hiện tại phòng VIP 5 quán K ở thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (do Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L làm chủ) có 05 khách đang sử dụng trái phép chất ma tuý, gồm: Chu Tuấn D sinh năm 1996, Vũ Đức D1 sinh ngày 05/8/2007 (đều trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang); Hoàng Thiện Q1 sinh năm 1996, trú tại thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trương Thị G1 sinh ngày 19/6/2006, hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang và Hoàng Thị Hồng N sinh ngày 27/10/2007, hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy, kết quả: Cả 05 người nêu trên đều dương tính với ma túy Ketamine, MDMA, Methamphetamine.

Quá trình kiểm tra, các đối tượng khai nhận ma tuý mà mọi người sử dụng do Chu Tuấn D và Vũ Đức D1 cung cấp, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chu Tuấn D và Vũ Đức D1. Thu giữ các vật chứng sau:

  • - Trên mặt ốp tường trong phòng VIP 5: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được gói lại, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuốn tròn và cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá (được niêm phong trong phong bì có ký hiệu QT).
  • - Trên mặt ghế trong phòng VIP 5: 01 bật lửa gas màu đỏ.
  • - Trên mặt bàn phòng VIP 5: 01 vỏ lon Cocacola.
  • - Thu của Chu Tuấn D: 01 ví da màu nâu bên trong có 360.000 đồng; 01 Căn cước công dân mang tên Chu Tuấn D; 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro Max màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng.
  • - Thu giữ của Vũ Đức D1: 01 điện thoại Iphone XS màu trắng; 01 xe mô tô màu cam, số máy HC12E-3335498, số khung RLHHC1200BY535492, gắn biển kiểm soát 98M1-6789.

Hồi 22 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành xác định hiện trường, đã thu giữ:

  • - Tại bếp ăn sát quầy lễ tân: Thu trong sọt rác 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ (được niêm phong trong phong bì có ký hiệu HT); thu trên tủ bát 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn.
  • - Tại quầy lễ tân: 01 đầu thu camera màu đen, nhãn hiệu @Jhua, model: DHI-NVR4108HS-4KS2.

Tại Kết luận giám định số 1520/KL-KTHS ngày 12/7/2024, Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

  • - Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được gói lại là ma túy, có khối lượng 0,228 gam, loại Ketamine; tìm thấy chất ma tuý Ketamine trên 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được quận tròn, được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá, không xác định được khối lượng.
  • - Trong 01 phong bì có ký hiệu “HT” đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine trên 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được quận tròn, được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá, không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng 14 giờ ngày 09/7/2024, Chu Tuấn D và Hoàng Thiện Q1 đến quán K hát cùng với 02 nhân viên nữ là Trương Thị G1 và Hoàng Thị Hồng N ở phòng VIP 4, đến khoảng 16 giờ thì nghỉ, cả 04 người ra ngoài phòng lễ tân. Tại đây, Chu Tuấn D rủ Hoàng Thiện Q1 sử dụng ma tuý, Q1 đồng ý. Theo Tuấn D khai: Sau đó, đã gọi điện bằng M1 cho Đỗ Văn D2, sinh năm 1997 ở cùng tổ dân phố đặt mua 400.000 đồng ma tuý “Kẹo” (nhưng chưa trả tiền); Tuấn D tiếp tục gọi Zalo cho Vũ Đức D1 - là nhân viên bán quần áo thuê cho gia đình Tuấn D ở thị trấn V, huyện L bảo đến nhà Đỗ Văn D2 lấy ma tuý “Kẹo” xong thì về quán bán quần áo lấy thêm túi ma tuý “Ke” để ở trong cốp xe mô tô (số ma tuý này Tuấn D khai mua của Đỗ Văn D2 vào buổi sáng cùng ngày với giá 300.000 đồng nhưng chưa trả tiền) mang đến quán K cho Tuấn D. Sau khi gọi điện xong, Tuấn D ra quầy lễ tân gặp anh Thân Văn T5 (sinh năm 2004, trú tại thôn N, xã T, huyện L - là quản lý quán) xin 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và 01 tờ tiền 10.000 đồng; sau đó Tuấn D, Q1, G1, N chuyển sang phòng VIP 5 hát tiếp.

Theo Vũ Đức D1 khai: Sau khi được Tuấn D bảo đi lấy ma tuý, Đức D1 đã một mình điều khiển xe mô tô từ nhà đi đến nhà Đỗ Văn D2, thấy cửa đóng nên gõ cửa, lúc này có người phụ nữ là Ma Thị T2, sinh năm 1998 (vợ Đỗ Văn D2) từ trong nhà mở hé cửa chính rồi đưa cho 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng 02 viên ma tuý “Kẹo” màu xám hình tam giác. Lấy được ma tuý, Đức D1 đi về cửa hàng bán quần áo của Tuấn D lấy chìa khoá xe mô tô của Tuấn D để trong nhà ra mở cốp xe thấy trong cốp có 01 hộp giấy (loại đựng thuốc nhỏ mắt) bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng ma tuý “Ke”. Đức D1 đóng cốp xe, điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 98M1-6789 của Tuấn D đi đến quán K.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Đức D1 đến quán K, gọi Tuấn D ra ngoài hành lang cửa phụ và đưa toàn bộ ma tuý cho Tuấn D, Tuấn D cầm ma tuý rồi rủ Đức D1 vào sử dụng cùng, Đức D1 đồng ý, cả hai đi vào phòng VIP 5. Tại đây, Tuấn D lấy 01 viên ma tuý “Kẹo” sử dụng bằng cách cho vào miệng uống cùng nước Cocacola còn 01 viên ma tuý “Kẹo” Tuấn D đưa cho Q1, Q1 sử dụng một phần còn lại để ở bàn, sau đó N đã sử dụng, cách thức sử dụng giống như Tuấn D đã dùng. Sau đó, Tuấn D cầm túi ma tuý “Ke” đi đến bếp của quán tự lấy đĩa sứ tròn trên tủ bếp đổ ma tuý vào, đặt đĩa lên bếp gas bật bếp hơ nóng, vỏ túi nilon đựng ma tuý Tuấn D vứt vào thùng rác; khi ma tuý nóng lên Tuấn D “Xào ke” bằng cách lấy bật lửa tán nhỏ, miết mịn, đổ ma tuý “Ke” vào tờ tiền 1.000 đồng và gói lại; đĩa sứ Tuấn D rửa sạch để lại chỗ cũ rồi mang ma tuý “Ke” quay lại phòng VIP 5 để trên gờ tường và lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng quấn tròn thành dạng ống hút, cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá. Tuấn D cầm tờ tiền đựng ma tuý và ống hút đi đến chỗ từng người trong phòng mời sử dụng, khi được mời tất cả mọi người đều sử dụng bằng cách lấy ống hút bằng tờ tiền dùng mũi hít ma túy vào cơ thể, sau đó Tuấn D cũng tự mình sử dụng ma tuý. Sau khi mọi người cùng sử dụng ma tuý xong thì Tuấn D để tờ tiền đựng ma tuý và ống hút lên gờ tường, tất cả mọi người tiếp tục hát. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.

Ngày 10/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành thực nghiệm điều tra việc Chu Tuấn D tự thực hiện lại hành vi chế biến ma tuý “ke” (Xào ke) và làm ống hút bằng tờ tiền 10.000 đồng để làm dụng cụ sử dụng ma tuý. Kết quả: Tuấn D đã thực hiện thuần thục hành vi chế biến ma tuý như lời khai và nội dung nêu trên.

Quá trình điều tra, các bị cáo Chu Tuấn D và Vũ Đức D1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Chu Tuấn D và Vũ Đức D1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Chu Tuấn D và Vũ Đức D1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố.

  • - Bị cáo Chu Tuấn D khai tại phiên tòa: bị cáo là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng chất ma túy và gọi điện cho Vũ Đức D1 đi lấy ma túy và được Vũ Đức D1 đồng ý đi lấy ma túy. Sau khi Vũ Đức D1 mang ma túy đến thì bị cáo rủ Vũ Đức D1 cùng Q1, N và G cùng sử dụng ma túy sau đó bị bắt quả tang.
  • - Bị cáo Vũ Đức D1 khai: Bị cáo thừa nhận có được bị cáo Chu Tuấn D gọi điện bảo đi lấy ma túy sau đó mang ma túy đến cho Chu Tuấn D và cùng Chu Tuấn D, N, Q1 và G cùng sử dụng ma túy sau đó bị bắt quả tang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã trích đọc lời khai xác nhận việc sự việc như cáo trạng truy tố đã nêu và lời khai của Chu Tuấn D và Vũ Đức D1 đã khai.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữa quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Chu Tuấn D và Vũ Đức D1 theo tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Chu Tuấn D, đề nghị xử phạt bị cáo Chu Tuấn D từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/7/2024; áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Đức D1, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đức D1 từ 05 năm đến 05 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt với bản án số 36/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt bị cáo 04 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của 02 bản án từ 05 năm 04 tháng tù đến 05 năm 07 tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,212gam, 01 vỏ phong bì, 01 bật lửa ga, 01 vỏ lon Cocacola, 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng 01 biển số xe 99B1-121.44; tịch thu sung công quỹ số tiền 10.000đ và 1000₫, 01 xe mô tô màu cam BKS 99B1-121.44; 01 điện thoại di động Iphone 15 màu đen của Chu Tuấn D; 01 điện thoại Iphone XS màu trắng của Vũ Đức D1. Trả lại cho anh Nguyễn Văn Q2 01 đầu thu camera màu đen; trả lại cho bị cáo Chu Tuấn D 01 ví da màu nâu, số tiền 360.000đ, 01 Căn cước công dân mang tên Chu Tuấn D và 01 điện thoại di động Iphone 12 màu vàng. Ngoài ra buộc các bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Chu Tuấn D, Vũ Đức D1 không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện VKS. Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo tốt, sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của họ, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ khoảng 16 giờ 30 phút giờ đến khoảng 18 giờ ngày 09/7/2024, tại phòng VIP 5 quán K ở thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Chu Tuấn D và Vũ Đức D1, sinh ngày 05/8/2007 (16 tuổi, 11 tháng, 4 ngày) có hành vi cung cấp chất ma túy dạng “Ke” (ma tuý Ketamine) và ma tuý dạng “Kẹo” (ma tuý MDMA), đồng thời Chu Tuấn D có hành vi chế biến chất ma túy (Xào ke) để chính bản thân Chu Tuấn D, Vũ Đức D1 sử dụng và tổ chức cho 03 người khác sử dụng cùng là Hoàng Thiện Q1, Trương Thị G, sinh ngày 19/6/2006 và Hoàng Thị Hồng N, sinh ngày 27/10/2007 (16 tuổi, 08 tháng, 12 ngày).

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền về chất ma túy của nhà nước, bị pháp luật nghiêm cấm. Nhà nước ta luôn có những quy định nghiêm khắc để răn đe, trừng trị đối với loại tội phạm về ma túy do đó, cần phải một bản án với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện, đồng thời đó là biện pháp để cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như để răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Xét về tính chất vụ án, vai trò, nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn, không có sự bàn bạc phân công từ trước. Xét về vai trò của từng bị cáo HĐXX thấy, bị cáo Chu Tuấn D là người khởi xướng và là người trực tiếp liên hệ với người bán ma túy để trao đổi đặt vấn đề mua ma túy, trực tiếp xào ke cho các đối tượng cùng sử dụng nên bị cáo D giữ vai trò chính; bị cáo Vũ Đức D1 là người đi lấy ma túy mang đến cho Chu Tuấn D, cùng sử dụng ma túy có vai trò giúp sức tích cực, có vai trò đứng sau bị cáo Chu Tuấn D.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận, có thái độ ăn năn hối cải nêu đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Chu Tuấn D, có ông nội là Chu Văn T6 và bà nội là Phạm Thị Ú là người có công với cách mạng, ông Chu Văn T6 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bà Phạm Thị Ú được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên bị cáo Chu Tuấn D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹn trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Vũ Đức D1 có nhân thân xấu, ngày 28/10/2024 bị cáo bị TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 04 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Từ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét thấy cần bắt các bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo cho các bị cáo thành người có ích, biết tuân thủ pháp luật. Đối với bị cáo Vũ Đức D1 khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới 16 tuổi 11 tháng 04 ngày nên được hưởng chính sách khoan hồng khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Chương XII Bộ luật hình sự. Xét mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS xử lý về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 0,212 gam ma túy loại Ketamin hoàn lại sau giám định; 01 vỏ phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT"; 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “HT” bên trong có 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ; 01 bật lửa ga, 01 vỏ lon Cocacola, 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng;
  • - Tịch thu sung công quỹ số tiền 10.000đ, 1000đ và 01 xe mô tô màu cam BKS 99B1-121.44; 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax màu đen của Chu Tuấn D; 01 điện thoại Iphone XS màu trắng của Vũ Đức D1.
  • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn Q2 01 đầu thu camera màu đen; trả lại cho bị cáo Chu Tuấn D: 01 ví da màu nâu, số tiền 360.000đ, 01 Căn cước công dân mang tên Chu Tuấn D và 01 điện thoại di động Iphone 12 màu vàng
  • (Đặc điểm vật chứng theo như QĐ chuyển vật chứng số 88/QĐ-VKS ngày 14/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra với Chi cục THADS huyện L).

[7]. Các nội dung khác:

Đối với: 01 xe ô tô nhãn hiệu MG, biển kiểm soát 21A-116.60 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, số IMEI: 359015633693960 của Hoàng Thiện Q1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, số IMEI 1: 353751256836744, số IMEI 2: 353751257949900 của G1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max, số IMEI 1: 356727114264052, số IMEI 2: 356727113936148 của N. Các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu, việc trả lại tài sản là phù hợp theo quy định pháp luật do đó HĐXX không xem xét.

Đối với các đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng VIP 5 quán K, ngày 26/8/2024 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính do đó HĐXX không xem xét.

Đối với Nguyễn Văn Q2 là chủ quán K, không biết việc các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng hát nên không có căn cứ xử lý về hình sự. Ngày 13/9/2024, Chủ tịch UBND huyện L đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi người đứng đầu cơ sở kinh doanh để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình kinh doanh quản lý do đó HĐXX không xem xét.

Đối với Đỗ Văn D2 và Ma Thị T2: Đỗ Văn D2 khai không bán ma tuý cho Chu Tuấn D, T2 khai không đưa ma túy cho Vũ Đức D1. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Chu Tuấn D với Đỗ Văn D2 và giữa Vũ Đức D1 với Ma Thị T2, các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của Chu Tuấn D và Vũ Đức D1 thì không có chứng cứ nào khác chứng minh Đỗ Văn D2 và T2 đã có hành vi bán trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ xử lý hình sự do đó HĐXX không xem xét.

Đối với số 0,228 gam ma tuý Ketamine đã thu giữ, quá trình điều tra Chu Tuấn D khai mục đích tàng trữ là để tổ chức cho mọi người cùng sử dụng, đây là số còn lại chưa kịp sử dụng tiếp thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện. Xét thấy số ma tuý này mục đích dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý (đã xử phạt hành chính) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Chu Tuấn D là có căn cứ do đó HĐXX không xem xét.

[8]. Do các bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[9]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điều luật áp dụng và xử phạt:
  • - Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255, Điều 17, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 3, Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  • Xử phạt: Bị cáo Chu Tuấn D 07 (bẩy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/7/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo Chu Tuấn D.
  • - Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 58, Điều 56, Điều 90, 91, Điều 101, Điều 104 của Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 291, Điều 292, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 3, Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  • Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức D1 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 36/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt bị cáo Vũ Đức D1 04 (bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo Vũ Đức D1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 (năm) năm 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/07/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo Vũ Đức D1.
    1. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 0,212 gam ma túy loại Ketamin hoàn lại sau giám định; 01 vỏ phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT”; 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “HT” bên trong có 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ; 01 bật lửa ga, 01 vỏ lon Cocacola, 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng;
    • - Tịch thu sung công quỹ số tiền 10.000đ, 1000đ; 01 xe mô tô màu cam BKS 99B1-121.44, số máy HC12E-3335498, số khung RLHHC1200BY535492; 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax màu đen, số IMEI 354449443728457; 01 điện thoại Iphone XS màu trắng, số máy MT9F2KHIA, số seerri F17YT1Z3PG2.
    • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn Q2: 01 đầu thu camera màu đen; trả lại cho bị cáo Chu Tuấn D: 01 ví da màu nâu, số tiền 360.000đ, 01 Căn cước công dân mang tên Chu Tuấn D và 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, số IMEI 350888746583891.
    • (Đặc điểm vật chứng theo như QĐ chuyển vật chứng số 88/QĐ-VKS ngày 14/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra với Chi cục THADS huyện L).
    1. Về án phí:

    Buộc các bị cáo Chu Tuấn D và Vũ Đức D1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    1. Về quyền kháng cáo:
    • - Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .

    Án xử công khai sơ thẩm./.

    Nơi nhận:

    • - VKSND, Công an huyện Lạng Giang;
    • - VKSND, Sở TP tỉnh Bắc Giang;
    • - TAND tỉnh Bắc Giang;
    • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
    • - Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa.
    • - Lưu.

    T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

    THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Vũ Thị Thiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123C/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 123C/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chu Tuấn Duy và Vũ Đức Duy phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger