Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 123B/2024/HS-ST

Ngày 29-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đặng Thiều Quang - Giáo viên
  • Ông Đồng Văn Diện - Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98A/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Lương Thị H, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2006.

  • Nơi thường trú: thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • Nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
  • Con ông Lương Văn H1, sinh năm 1977 và bà Hà Thị H2, sinh năm 1985. Bị cáo chưa có chồng con;
  • Tiền án, tiền sự: không;
  • Nhân thân: không
  • Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lương Văn H1, sinh năm 1977 (bố đẻ) và bà Hà Thị H2, sinh năm 1985 (mẹ đẻ). Cùng địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Có mặt tại phiên tòa

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Thân Thị Thúy V – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B – Có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Anh Nông Văn Đ, sinh năm 2004 (đã chết).

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • Anh Nông Văn M, sinh năm 1982 – Có mặt tại phiên tòa
  • Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1985 – Vắng mặt tại phiên tòa

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Chị L ủy quyền cho anh M) – Có mặt tại phiên tòa

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Lương Văn H1, sinh năm 1977 – Có mặt tại phiên tòa
  • Bà Hà Thị H2, sinh năm 1985 – Có mặt tại phiên tòa

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  • Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975 – Có mặt tại phiên tòa

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  • Cháu Đặng Lan A, sinh ngày 10/7/2006. Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt

Người đại diện hợp pháp của cháu Đặng Lan A: Anh Đặng Văn H3, sinh năm 1982 (bố đẻ). Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt.

  • Chị Vi Thị Á, sinh năm 1996 – Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

  • Cháu Lương Thành T, sinh ngày 16/11/2011. Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của cháu Lương Thành T: Ông Lương Văn H1, sinh năm 1977 (bố đẻ) và bà Hà Thị H2, sinh năm 1985 (mẹ đẻ). Cùng địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Có mặt tại phiên tòa

  • Anh Lương Văn N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt.

* Những người tham gia tố tụng khác: Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là người dưới 18 tuổi sinh sống, lao động, học tập.

  • UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tiến D – Chủ tịch UBND xã có đơn xin xét xử vắng mặt
  • UBND xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật ông Lê Văn T1 – Chủ tịch UBND xã có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/05/2024, Lương Thị H sinh ngày 14/12/2006, trú tại thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (không có giấy phép lái xe) nhắn tin rủ bạn là Đặng Lan A, sinh ngày 10/7/2006, trú tại thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến nhà chơi và đi uống nước ở thị trấn K, huyện L. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, Lan A đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, không gắn biển kiểm soát đến đỗ ở cổng nhà H, thấy vậy, H rủ thêm em trai là Lương Thành T, sinh năm 2011 đi cùng, đồng thời bảo Lan A để H điều khiển xe mô tô chở Lan A và T đi uống nước thì Lan A đồng ý. Sau đó H điều khiển xe mô tô, T ngồi giữa và Lan A ngồi sau cùng. Khi ngồi lên xe, H phát hiện xe hết xăng nên H chở T và Lan A đi từ nhà ra quốc lộ A, rẽ phải đi theo hướng Hà Nội - Lạng Sơn, đi trên phần đường phải theo chiều đi của mình để đổ xăng. Khi đến trước cửa hàng X trên đường Q thuộc thôn K, xã H, huyện L, H điều khiển xe đi chậm lại, quan sát phía trước thấy không có phương tiện đi lại, phía sau có anh Nông Văn Đ, sinh năm 2004, trú tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 389.59 đi từ hướng Hà Nội tới, cách xe mô tô của H khoảng 20m, H điều khiển xe mô tô chuyển hướng rẽ trái sang đường để vào cửa hàng xăng dầu Đ đổ xăng. Khi H điều khiển xe đến khu vực giữa đường Q thì lúc này anh Nông Văn Đ điều khiển xe mô tô đi tới nên xe mô tô do điều khiển va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 389.59 do anh Đ điều khiển. Hậu quả, anh Nông Văn Đ bị thương nặng được quần chúng nhân dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh B và được gia đình đưa đi chữa trị tại bệnh viện H4 nhưng do thương tích nặng anh Đ đã tử vong vào ngày 07/5/2024.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại Km 100+350 Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa, áp phan thẳng, phẳng. Mặt đường rộng 1200cm, giữa đường có vạch sơn màu vàng ngắt quãng đều nhau chia mặt đường thành hai dòng phương tiện đi ngược chiều nhau cùng rộng 600cm, trên mỗi phần đường có vạch sơn trắng liền nét phân chia làn đường dành cho xe cơ giới cùng rộng 350cm và làn đường dành cho xe thô sơ, xe máy cùng rộng 250cm. Hành lang đường phía Tây rộng 300cm. Hai đầu đường hướng phía Bắc và phía Nam của hiện trường không có biển báo hiệu giao thông. Lấy tâm đầu đường phía N1 đi vào cửa hàng X phía Tây hiện trường làm điểm mốc. Lấy mép đường phải là mép đường chuẩn. Bên phải, bên trái của hiện trường được tính theo chiều đi của đường quốc lộ 1A theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội (Bắc - N).

Trên hiện trường phát hiện các phương tiện và dấu vết sau:

Xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 389.59 đổ nghiêng trái trên hành lang đường phải, đầu xe quay hướng Đ, tâm trục bánh trước cách mép đường phải 40 cm, tâm trục bánh sau cách mép đường phải 140cm. Ký hiệu số 1.

Dấu vết cày xước nổi màu trắng đục, ngắt quãng không đều nhau trên mặt đường, hành lang đường phải và mặt ngoài tường khuôn viên cửa hàng X, chiều hướng Đ - T và T - Đông Bắc, trên diện kích thước (1535 x 25)cm, rộng vết đơn 04cm; đầu vết cách mép đường phải 185cm, cuối vết kết thúc tại đầu để chân trước bên trái xe mô tô số 1 cách mép đường phải 40 cm. Ký hiệu số 2.

Dấu vết cày xước mặt đường nổi màu trắng đục, ngắt quãng không đều nhau trên mặt đường, trên diện kích thước (205 x 20)cm, rộng vết đơn 02cm, chiều hướng Đ1; đầu vết cách mép đường phải 630cm, cách đến điểm mốc về phía Tây Nam 840cm; cuối vết kết thúc lửng cách mép đường phải 470cm và cách đầu vết số 2 về phía T 1370cm. Ký hiệu số 3.

Vết mài trượt đường bê tông lối vào phía Bắc cửa hàng X - Bắc, kích thước (105 x 05)cm; đầu vết cách mép đường phải 205cm và cách đến tâm trục bánh sau xe số 1 về hướng Đông Nam 355cm; cuối vết kết thúc lửng cách mép đường phải 200cm. Ký hiệu số 4.

Dấu vết máu dạng quệt trên lối vào phía Bắc cửa hàng X, kích thước (60 x 20)cm, tâm vết cách mép đường phải 185cm và cách đến cuối vết số 4 về hướng T 20cm. Ký hiệu số 5.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra tạm giữ các đồ vật, tài sản, gồm: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 98B3- 389.59; 01 (một) xe mô tô không gắn biển kiểm soát, có số máy: JA39E2567433; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98E1- 818.34 (bản chính); 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô 98E1- 818.34. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành xét nghiệm chất ma túy và kiểm tra nồng độ cồn đối với Lương Thị H và Nông Văn Đ. Kết quả, H và Đ không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98B3-389.59

Mặt lăn má lốp bên phải bánh trước có vết mài sát cao su theo chiều chuyển động tiến, kích thước (15,5 x 3,8)cm.Cụm chi tiết hệ thống phanh bánh trước và đầu trục càng phải bánh trước có dấu vết mài sát kim loại, bám dính vật chất màu đen, chiều từ trước về sau kích thước (12,5 x 12,5)cm tâm cách đất 32cm. Mặt ngoài 1/3 dưới cánh yếm phải có dấu vết mài sát sơn, chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, bề mặt bám dính chất màu đen in hình vân lốp kích thước (11 x 9,5)cm, độ rộng vân lốp 3cm; tâm cách đất 50 cm; dập vỡ 1/2 phần cánh yếm phía trên bên phải, có vết mài sát sơn nhựa kích thước (25 x 5)cm, tâm cách đất 76cm. Phanh chân bị chùn cong theo hướng từ trước về sau từ phải sang trái, cạnh trước bàn phanh có dấu vết mài sát kim loại chiều hướng từ trước về sau, kích thước (5,5 x 0,3)cm. Khung kim loại bảo vệ lốc máy bên phải bị gãy rời khỏi trục cố định, bẹp méo, biến dạng, bề mặt có vết mài sát kim loại kích thước (2 x 0,1)cm, tâm cách đất 31cm. Lốc máy tại vị trí tương ứng bên phải có dấu vết cắt gọt kim loại, chiều từ trước về sau kích thước (4 x 3,6)cm tâm cách đất 34cm. Để chân trước bên phải bị chùn cong từ trước về sau, bung bật vở cao su lộ thanh kim loại phía trong, đầu thanh kim loại có vết mài sát kim loại bám dính tạp chất màu trắng kích thước (2,5 x 2)cm. Ốp nhựa phía trên bên phải đèn chiếu sáng có vết mài sát sơn nhựa kích thước (2,5 x2,5)cm. Tay phanh bị chùn cong xuống dưới, đầu tay phanh có vết mài sát kim loại kích thước (2 x 1,5)cm. Đầu tay nắm phải có vết mài sát kim loại kích thước (3 x 1,5)cm. Cạnh bên phải giá kim loại phía sau, ốp kim loại ống xả, có vết gãy vỡ, bẹp lõm kim loại, bề mặt bám dính tạp chất màu trắng đục.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô không gắn biển kiểm soát, nhãn hiệu Wave, màu sơn đen bạc:

Má lốp, mặt lăn bên trái lốp xe bánh trước có vết mài sát cao su hướng từ tâm ra trên diện kích thước (15 x 2)cm, tâm vùng vết cách chân van theo chiều chuyển động tiến 40 cm. Mặt trên vành bánh xe có vết mài sát kim loại, bề mặt bám dính vật chất dạng sơn, màu đỏ, chiều hướng ngược chiều chuyển động tiến, trên diện kích thước (7 x 2)cm, đầu vết cách chân van theo chiều chuyển động tiến 30cm. Cạnh dưới, cạnh ngoài, bu lông, đầu trục bên trái bánh trước có diện mài sát, bẹp lõm, cắt gọt kim loại, bề mặt bám dính vật chất màu đen, trên diện kích thước (5 x 2)cm, tâm cách đất 24cm. Mặt ngoài chốt kim loại cố định dây phanh bánh trước với may ơ và mặt bên trên may ơ trước tại vị trí tương ứng có dấu vết mài sát kim loại kích thước (5 x 4)cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm vết cách đất 25cm. Ốp nhựa đèn tín hiệu phía trước bên trái và ốp nhựa phía ngoài có dấu vết mài sát sơn nhựa, chiều hướng từ trái sang phải trên diện kích thước (11 x 6)cm. Mặt trước đầu tay nắm bên trái có dấu vết mài sát kim loại, kích thước (3 x 1,5)cm tâm cách đất 100cm. Mặt ngoài cánh yếm bên trái có dấu vết mài sát sơn nhựa chiều hướng từ trước ra sau trên diện có kích thước (21 x 10)cm tâm vết cách đất 60cm. Đầu để chân trước bên trái bị chùn cong theo chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên; đầu đế chân có dấu vết mài sát cao su, kim loại bám dính tạp chất màu trắng kích thước (3 x 2)cm, tâm vết cách đất 33 cm. Đầu để chân sau bên trái có dấu vết mài sát kim loại kích thước (0,6 x 0,6)cm.

Kết quả khám nghiệm tử thi Nông Văn Đ

Trên cơ thể của Nông Văn Đ có các tổn thương sây sát, xước, dập rách da, bầm tím tập trung ở các vùng: Đầu, mặt, lưng, mông, hai tay và chân phải.

Khám trong: Chọc hút bằng bơm kim tiêm khoang ổ bụng kiểm tra thấy không có máu.

Phiếu chụp cắt lớp vi tính sọ não: Dập não thuỳ trán - thái dươnghai bên; chảy máu khoang dưới nhện lan toả hai bán cầu; tụ máu dưới màng cứng cấp lớp mỏng bán cầu trái; vài ổ tụ khí nội sọ, phù não lan toả tầng trên và dưới lều tiểu não. Vỡ thân xương bướm; vỡ xương vùng chẩm trái. Phiếu chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: Đụng dập rải rác nhu mô thuỳ trên phổi trái và thuỳ dưới hai phổi.

Tại Kết luận giám định tử thi số: 1178/KLGĐTT-KTHS ngày 30/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Nông Văn Đ do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín.

Tại Kết luận giám định số: 1318/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Dấu vết mài trượt sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su), có chiều hướng từ trước ra sau tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 389.59 gồm: Giảm sóc trước, đầu ốc trục bánh trước, cụm phanh bánh trước, cánh yếm (ảnh số 10, 11, 13, 14 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước cao su, sạch bụi đất tại bên trái má lốp bánh trước và dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn) tại bên trái vành bánh trước của xe mô tô không gắn biển kiểm soát số máy JA39E2567433, có chiều hướng từ tâm bánh ra ngoài (ảnh số 5 đến 9 bản ảnh khám phương tiện).

2. Dấu vết trượt xước, chùn cong, dập vỡ, mài sát sơn, kim loại tại chân phanh, khung kim loại bảo vệ vỏ máy bên phải và vỏ máy bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B3-389.59, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 17, 18 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết hằn lõm, trượt xước kim loại tại đầu ốc bên trái trục bánh trước, giảm sóc trước bên trái, chốt kim loại cố định dây phanh bánh trước của xe mô tô không gắn biển kiểm soát số máy JA39E2567433 có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 11 đến 16 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

3. Không xác định được vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 389.59 với xe mô tô không gắn biển kiểm soát số máy JA39E2567433 trên mặt đường qua dấu vết cơ học, do hiện trường đã bị xáo trộn.

4. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.”

Sau khi dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông trên, ngày 30/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã có công văn số 744/ĐTTH đề nghị Phòng K Công an tỉnh B xác định vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS: 98B3- 389.59 với xe mô tô không gắn biển kiểm soát, có số máy JA39E2567433 trên mặt đường, phần đường xảy ra va chạm giữa hai phương tiện. Ngày 02/8/2024 Phòng K - Công an tỉnh B có công văn số 853/KTHS về việc trao đổi cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông: Qua nghiên cứu các tài liệu bổ sung do Cơ quan CSĐT Công an huyện L cung cấp, xác định: Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS: 98B3- 389.59 với xe mô tô không gắn biển kiểm soát, có số máy JA39E2567433 trên mặt đường tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 3, không xác định được thuộc chiều chuyển động bên phải hay bên trái đường Q, theo hướng Lạng Sơn đi Hà Nội.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 68/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá trị các phần hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát: 98B3- 389.59 là 2.340.000 đồng; Giá trị các phần hư hỏng của xe mô tô không gắn biển kiểm soát là 2.830.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Lương Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 30 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lương Thị H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo xác định các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo giữ nguyên những lời khai này. Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đ, việc bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc gì.

Anh Nông Văn M - là người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa trình bày: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đ. Đến nay gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Sự việc xảy ra hai bên đều không mong muốn, nay anh đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người này tại Cơ quan điều tra, bị cáo nhất trí không có ý kiến gì về lời khai của họ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; người đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là người dưới 18 tuổi sinh sống, lao động, học tập có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ đã có lời khai của một số những người này, những người tham gia tố tụng đồng ý xét xử vắng mặt họ nên căn cứ khoản 2 Điều 290, Điều 291, Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3]. Xem xét về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khẳng định những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được làm rõ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy đã có đầy đủ căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 45 phút ngày 06/5/2024, tại đường Q thuộc thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Lương Thị H, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2006 (không có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, không gắn biển kiểm soát đi trên quốc lộ A hướng Hà Nội- Lạng Sơn chuyển hướng không đảm bảo an toàn (vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ) nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 389.59 do anh Nông Văn Đ điều khiển đi cùng chiều. Hậu quả, anh Đ bị chết. Tuy nhiên, trong vụ án này người bị hại anh Nông Văn Đ cũng có lỗi khi điều khiển xe tham gia giao thông nhưng không có giấy phép lái xe, không làm chủ tốc độ, vượt xe không đảm bảo an toàn vi phạm khoản 1 Điều 58, khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông, gây thiệt hại tới tính mạng anh Đ.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo H về tội danh và điều khoản như trên hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4]. Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây tai nạn đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện theo ủy quyền của người địa diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác trong vụ án này người bị hại anh Nông Văn Đ cũng có một phần lỗi trong việc để xảy ra tai nạn, hậu quả làm anh Đ chết.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Nguyên nhân để xảy ra tai nạn do lỗi của cả bị cáo và lỗi của bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân, ăn hối hận về hành vi phạm tội của mình, sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới 17 tuổi 04 tháng 22 ngày nên để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật, bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Chương XII Bộ luật hình sự, xét thấy không cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ giúp răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật theo như mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo tự nguyện thăm hỏi và bồi thường cho gia đình bị hại 120.000.000 đồng. Đến nay, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, các bên đã thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định xe ô tô BKS 98B3- 389.59 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975, trú tại Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh Q mang xe mô tô trên đến nhờ anh Nông Văn Đ sửa từ cuối tháng 4/2024 (anh Đ mở cửa hàng sửa chữa xe máy tại nhà). Chiều ngày 06/5/2024, anh Đ đi xe mô tô trên của ông Q thì xảy ra tai nạn. Xe mô tô không gắn biển kiểm soát, có số máy: JA39E2567433 và BKS: 98E1- 818.34 là tài sản hợp pháp của Đặng Văn H3, sinh năm 1982, trú tại: thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (bố đẻ của Đặng Lan A). Ngày 15/8/2024, Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên cho anh Nguyễn Văn Q và anh Đặng Văn H3. Xét thấy việc trả lại vật chứng của cơ quan cảnh sát điều tra là phù hợp, đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, các Điều 292, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Xử phạt bị cáo Lương Thị H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/11/2024).

Giao bị cáo Lương Thị H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

  • Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Công an huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND xã Hương Lạc;
  • - Lưu HS vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123B/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 123B/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Thị Hương phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger