Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 1234/2024/HS-ST

Ngày 29-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đặng Thiều Quang - Giáo viên
  • Ông Đồng Văn Diện - Cán bộ hưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Ông Phùng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Hoàng Văn N, sinh ngày 07 tháng 4 năm 2008.

- Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

- Nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;

- Con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985. Bị cáo chưa có vợ con;

- Tiền án, tiền sự: không;

- Nhân thân: Ngày 15/8/2024, Cơ quan CSĐT – Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang khởi tố bị can đối với Hoàng Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện L – Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1981 (bố đẻ) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985 (mẹ đẻ). Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Có mặt tại phiên tòa

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thu T2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B – Có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm 1967 – Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Phạm Duy K, sinh ngày 08/09/2009 – Có mặt

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Duy K: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1981 (bố đẻ) và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985 (mẹ đẻ). Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Có mặt.

+ Cháu Nguyễn Đình L, sinh ngày 18/11/2009 – Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Đình L: Ông Nguyễn Đình L1, sinh năm 1974 (bố đẻ) và bà Trần Thị N1, sinh năm 1980 (mẹ đẻ). Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Vắng mặt

* Những người tham gia tố tụng khác: Đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là người dưới 18 tuổi sinh sống, lao động, học tập:

+ UBND xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến D – Chủ tịch UBND xã có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn T – Chủ tịch UBND xã có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn N, sinh ngày 07/4/2008, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là bạn Nguyễn Đình L, sinh ngày 18/11/2009, ở thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Phạm Duy K, sinh ngày 08/9/2009, ở thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 19/8/2024, N cùng K, L có thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ “Phương Thảo" ở khu đô thị P, thị trấn V, huyện L để ở cùng nhau. Khoảng 12 giờ ngày 23/8/2024, N ngủ dậy thì không thấy L và K đâu nên N ra quán Internet ở gần nhà nghỉ T3 thì gặp L và K đang chơi điện tử trong quán. Tại đây, N rủ L, K lên quán I ở tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L để chơi cùng bạn của N, L và K đồng ý. Khi N, K, L đi bộ qua cửa nhà bà Lê Thị H, sinh năm 1967 ở tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển kiểm soát 98B3-676.39 của chị H đang để ở ngoài cửa nhà bên cạnh. Thấy vậy, N bảo với L và K quay lại lấy trộm chiếc xe trên thì L và K đồng ý. Cả ba quay lại vào đứng trú mưa dưới ô cạnh chiếc xe trên, quan sát thấy không có người trông coi, quản lý, L hỏi N là “xe có khóa cổ không” thì N lấy tay lắc tay lái thì thấy xe không khóa cổ. Khoảng 05 phút sau, thấy chị H đi xe máy điện ra ngoài nên N bảo L dắt xe đi trước, còn N và K đi bộ theo cảnh giới. Nguyên dắt xe đi dọc theo đường gom cạnh đường tàu xuống hướng ngã tư thị trấn V cũ rồi rẽ phải đi đến đoạn đường phía sau Ủy ban nhân dân thị trấn V thì N và K bảo L dắt xe lên vỉa hè. Tại đây, N dùng tay vặn tháo gương chiếu hậu bên trái của xe ra rồi vứt ở rìa tường gần đó, đồng thời L cũng dùng tay vặn tháo gương chiếu hậu bên phải và lấy chiếc mũ bảo hiểm đang treo ở xe vứt ở rìa tường gần đó. Sau đó, N dùng tay giật ốp nhựa mặt nạ phía trước xe ra rồi đấu nối dây điện để nổ máy xe nhưng không khởi động được, K thấy vậy cũng thử đấu nối lại nhưng vẫn không được nên Nguyên L2 lại ốp nhựa mặt lạ xe và bỏ lại xe ở đó rồi cùng nhau đi bộ về nhà nghỉ P.

Sau khi phát hiện tài sản bị trộm cắp, ngày 23/8/2024, bà Lê Thị H đã làm đơn trình báo Công an thị trấn V.

Cùng ngày, Hoàng Văn N đến Công an huyện L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 23/8/2024, Cơ quan Công an huyện L đã thu giữ tại hành lang đường 295 đi quốc lộ A thuộc tổ dân phố V, thị trấn V: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển kiểm soát 98B3-676.39; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA MT-117K, 02 gương chiếu hậu xe mô tô, cũ đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 89/KL-HĐĐGTS ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L, kết luận:

“- Giá trị 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, BKS 98B3-676.39, có 02 gương chiếu hậu, đăng ký lần đầu tháng 8/2020, đã qua sử dụng, có giá là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Giá trị của 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA MT-117K, màu bạc, loại mũ ½ đầu, cũ đã qua sử dụng, có giá là 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng)”.

Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 10 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyên K1 nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đã nêu. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Phạm Duy K giữ nguyên lời khai đã trình bày tại Cơ quan điều tra.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án đã trích lời khai của những người vắng mặt, bị cáo N nhất trí không có ý kiến gì về lời khai của họ.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Hoàng Văn N về tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo N từ 06 tháng – 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2024; miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết. Về vật chứng: không có. Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định và tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

* Quan điểm của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo:

Người bào chữa cho bị cáo đều xác định nội dung cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng tuy nhiên đề nghị xem xét quá trình điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bột phát thực hiện hành vi phạm tội, đều có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội lần này đều chấp hành đầy đủ quy định pháp luật tại địa phương. Do đó đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhấp của khung hình phạt cho bị cáo.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên toà đều nhất trí quan điểm của trợ giúp viên pháp lý, không có tranh luận gì khác.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên toà nhất trí và không có ý kiến gì khác.

* Bị cáo có mặt tại phiên toà không có ý kiến tranh luận, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân, trở thành công dân có ích của xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; người đại diện tổ chức chính trị xã hội tại địa phương nơi bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là người dưới 18 tuổi sinh sống, lao động, học tập có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ đã có lời khai của một số những người này, những người tham gia tố tụng đồng ý xét xử vắng mặt họ nên căn cứ khoản 2 Điều 290, Điều 291, Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3]. Về nội dung vụ án: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/8/2024, tại khu vực đường H, tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Văn Nguyên sinh ngày 07/4/2008 cùng với Nguyễn Đình L, sinh ngày 18/11/2009 và Phạm Duy K, sinh ngày 08/9/2009 có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển kiểm soát 98B3-676.39 trị giá 10.000.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA MT-117K trị giá 20.000 đồng của bà Lê Thị H. Tổng giá trị tài sản N, L và K trộm cắp trị giá 10.020.000 đồng.

Đối với Phạm Duy K và Nguyễn Đình L tại thời điểm phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, phù hợp với biên bản hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần xem xét xử lý nghiêm hành vi của các bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 15/8/2024 bị cáo bị Cơ quan CSĐT – Công an thị xã V, tỉnh Bắc Giang khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, trong thời gian tại ngoại bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới 16 tuổi 04 tháng 16 ngày nên được hưởng chính sách khoan hồng khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Chương XII Bộ luật hình sự.

Qua xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy: trong một khoảng thời gian ngắn bị cáo đã thực hiện liên tiếp 02 hành vi trộm cắp tài sản điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, bị cáo là người khó giáo dục. Để giáo dục, răn đe cần phải có hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ Nhà nước. Song xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, thuộc hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[8]. Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển kiểm soát 98B3-676.39, 02 gương chiếu hậu xe mô tô, 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA màu bạc là của bà Lê Thị H. Ngày 12/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho bà H việc trả vật chứng phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về các vấn đề khác: Đối với Phạm Duy K, sinh ngày 08/09/2009 và Nguyễn Đình L, sinh ngày 18/11/2009 tham gia trộm cắp tài sản. Tại thời điểm này thì K và L đều chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 18/9/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K và L về hành vi Trộm cắp tài sản theo quy định của pháp luật là đúng quy định pháp luật.

[10]. Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11]. Về án phí: Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các Điều 135, 136, 292, 293, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/8/2024.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hoàng Văn N.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Công an huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS vụ án, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1234/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 1234/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Nguyên phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger