Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1238/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Mai Lan.
  2. Ông Nguyễn Văn Soan.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Duy Bảo Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 385/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 368/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số A đường N, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1980; trú tại: Số H đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị M trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hoàng V tự nguyện quen biết và yêu thương nhau và tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quyển số: 01/2010 ngày 28 tháng 01 năm 2010. Bà và ông V chung sống không có hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà và ông V đã nhiều lần hàn gắn nhưng không đạt kết quả, không giải quyết được mâu thuẫn. Bà và ông V đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị M yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 02/02/2017. Hiện nay trẻ P đang sống cùng với ông V nên bà M yêu cầu giao con cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Hoàng P và bà M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Hoàng V và giấy triệu tập ông V đến Tòa án để ghi nhận ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông V vắng mặt. Tòa án tiến hành tống đạt Thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông V. Ông V đều có ký nhận trực tiếp nhưng ông V không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và cũng không có ý kiến về các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Trần Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V, bà yêu cầu giao con cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 02/02/2017 và bà M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng V vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do bị đơn vắng mặt không tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa cho thấy, bà M và ông V đã phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm do không tìm được tiếng nói chung không thể giải quyết được, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết, hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị M. Cụ thể: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V; Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 02/02/2017 cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng và bà M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng, bắt đầu từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi trẻ P đủ 18 tuổi; Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên không xem xét.

Về án phí sơ thẩm thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Toà án nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Trần Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V, đây là quan hệ: “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn cư trú tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông V.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quyển số: 01/2010 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28 tháng 01 năm 2010, xác định hôn nhân giữa bà Trần Thị M và ông Nguyễn Hoàng V là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị M, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Bà M trình bày giữa bà và ông V không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, không tôn trọng nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không có hạnh phúc gia đình. Bà M và ông V đã nhiều lần hàn gắn để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía ông V, Tòa án đã triệu tập ông V tham gia các phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà M và ông V hàn gắn đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con chung. Mặc dù ông V ký nhận trực tiếp các văn bản của Tòa án nhưng ông V vẫn không có mặt thể hiện ông V không có thiện chí giải quyết những mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà M thể hiện ông không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông với bà M.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M.

Về người trực tiếp nuôi con: Tại Bản tự khai ngày 18/6/2024, trẻ Nguyễn Hoàng P trình bày nguyện vọng được sống chung với ba. Hiện nay trẻ Nguyễn Hoàng P đang chung sống với ông V. Để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của trẻ Nguyễn Hoàng P, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M, giao cho ông V trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 02/02/2017, bà M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng. Bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi trẻ P đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.

[4] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà M phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đông.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Luật phí và lệ phí;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

    Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng V (Giấy chứng nhận kết hôn số 22, quyển số: 01/2010 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28 tháng 01 năm 2010 không còn hiệu lực).

    Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Hoàng V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 02/02/2017. Bà Trần Thị M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng, bắt đầu từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi trẻ P đủ 18 tuổi.

    Bà Trần Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.

    Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

  2. Án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Trần Thị M phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0013385 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà M đã nộp đủ án phí.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

  3. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Hoàng V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Gò Vấp, TP . HCM;
  • - Chi cục THADS Q. Gò Vấp, TP . HCM;
  • - UBND P.Tân Thới Hiệp, Quận 12, TP . HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1238/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1238/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger