Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1235/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25-8-2023

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Tỵ,

Bà Bùi Diệu Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trúc Ly – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 202 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 428/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân D, sinh năm 1985.
  • Địa chỉ: số G ấp F, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
  • - Bị đơn: ông Võ Minh C, sinh năm: 1977.
  • Địa chỉ: số A đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • (Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện nộp ngày 02/3/2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân D trình bày: bà và ông Võ Minh C kết hôn sau thời gian tìm hiểu, thì tự nguyện tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 02/2011 ngày 26/10/2011.

Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc. Đến năm 2015, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hay cãi vã do có nhiều bất đồng về quan điểm sống, từ đó tình cảm ngày càng phai nhạt. Đến tháng 10 năm 2020, bà cùng 02 (hai) con về quê sinh sống cho đến nay. Sau nhiều lần cố gắng hàn gắn quan hệ vợ chồng không được, thời gian sống ly thân kéo dài nhiều năm, đến nay tình cảm không còn nên bà D yêu cầu ly hôn với ông Võ Minh Chí

Bà và ông C có 02 (hai) con chung tên Võ Chí T, sinh ngày 04/3/2011 và Võ Thiên K, sinh ngày 06/4/2016. Hai cháu sống cùng bà D từ năm 2020 đến nay. Do đó, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai ngày 18/4/2023 và quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Minh C trình bày: ông xác nhận lời trình bày của bà D về nơi đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung. Ông C xác nhận việc bà D cùng 02 (hai) con đã về nhà bà D sinh sống từ tháng 10 năm 2020 đến nay. Ông C thừa nhận giữa ông và D có phát sinh mâu thuẫn do trước đây ông có quen với người phụ nữ khác, tuy nhiên ông đã chấm dứt mối quan hệ đó, hai bên không còn liên hệ với nhau. Hiện tại ông đã sửa đổi, tu chí làm ăn. Ông C cho rằng giữa ông và bà D không có mâu thuẫn trầm trọng, do đó ông không đồng ý ly hôn với bà D.

Về con chung: ông C xác nhận giữa ông và D có 02 (hai) con chung như bà D trình bày. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ông và bà D ly hôn thì ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: ông C xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như: thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp; xác định đúng tư cách và triệu tập đủ các đương sự tham gia tố tụng; tiến hành xác minh thu thập chứng cứ. Thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ các Điều 51, Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Xuân D đối với ông Võ Minh C; giao cháu Võ Chí T và cháu Võ Thiên K cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị Xuân D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Võ Minh C. Bị đơn ông Võ Minh C cư trú tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 02/2011 do Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 26 tháng 10 năm 2011 xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Xuân D và ông Võ Minh C là hợp pháp.

Bà D xác định không còn tình cảm với ông C, nguyên nhân do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm sống, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nên hay cự cãi nhau. Bà và ông C đã sống ly thân với nhau từ tháng 10 năm 2020, thời gian sống ly thân kéo dài nhiều năm, đến nay tình cảm không còn nên bà D yêu cầu ly hôn với ông Võ Minh Chí

Ông Chí thừa nhận giữa ông và bà D có phát sinh mâu thuẫn do trước đây ông có quen với người phụ nữ khác, tuy nhiên ông đã chấm dứt mối quan hệ đó, hai bên không còn liên hệ với nhau. Hiện tại ông đã sửa đổi, tu chí làm ăn. Ông C1 cho rằng giữa ông và bà D không có mâu thuẫn trầm trọng, do đó ông không đồng ý ly hôn với bà D.

Xét thấy, hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu của cả vợ và chồng, đôi bên phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau. Nhưng hiện tại bà D xác định không còn tình cảm với ông C1. Qua nhiều lần hòa giải bà D vẫn cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông C1. Bà D và ông C1 đã không còn sống chung với nhau 03 năm. Ông C1 trình bày vẫn còn thương vợ, muốn được hòa giải để cùng bà D xây dựng hạnh phúc gia đình, nhưng không đưa ra được biện pháp để vợ chồng đoàn tụ, không có hành động để chứng minh tình cảm và thiện chí của mình.

Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng của bà D và ông C1 đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà D yêu cầu được ly hôn với ông C1 phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: bà D và ông C1 cùng xác nhận có 02 (hai) con chung tên Võ Chí T, sinh ngày 04/3/2011 và Võ Thiên K, sinh ngày 06/4/2016. Hiện tại cháu T và cháu K đang sống cùng với bà D. Bà D và ông C1 đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.

Xét thấy việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là quyền, nghĩa vụ của cả cha và mẹ. Cả hai cháu T và Kim hiện đang sinh sống cùng với bà D, được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, hai trẻ cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, giao cháu Võ Chí T và Võ Thiên K cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận việc bà D không yêu cầu ông C1 cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: bà D và ông C1 cùng xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về án phí: bà Nguyễn Thị Xuân D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 11 và Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Các Điều 19, 51, 53, 56, 57, 58, 69, 71, 81, 82, 83, 84, và Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Xuân D.

  • - Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Xuân D được ly hôn với ông Võ Minh C.
  • Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 02/2011 do Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 26 tháng 10 năm 2011 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về con chung: bà D và ông C cùng xác nhận có 02 (hai) con chung tên Võ Chí T, sinh ngày 04/3/2011 và Võ Thiên K, sinh ngày 06/4/2016.
  • Giao cháu Võ Chí T và cháu Võ Thiên K cho bà Nguyễn Thị Xuân D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  • Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom con.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận việc bà D không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: bà D và ông C cùng xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Xuân D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà D đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số AA/2022/0010927 ngày 16/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ án phí.

Các đương sự thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Bình Tân;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1235/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1235/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa bà D và ông C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger