Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1232/2023/HNGĐ-PT

Ngày: 22-12-2023

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa: Bà Đặng Thị Bích Loan

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Phương

Bà Lưu Thị Thủy Tiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (số B đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2023/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 856/2023/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5546/2023/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1971.

Địa chỉ: số A đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Phan Thị Thùy D, sinh năm 1971.

Địa chỉ: số D đường L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

* Người kháng cáo: Bà Phan Thị Thùy D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Văn Q - nguyên đơn trình bày:

Ông và bà Phan Thị Thùy D sống chung có đăng ký kết hôn vào năm 2002 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2002, Quyển số: I/D2, ngày 20/3/2002 của Ủy ban nhân dân Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh). Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bà D cờ bạc dẫn đến nợ nần, vợ chồng thường xuyên cãi vã, tình cảm ngày càng phai nhạt, sau đó cả hai đã chọn sống ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.

Ông Q cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị Thùy D.

Về con chung: Ông Q và bà D có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quang D1, giới tính: Nam, sinh ngày 05/10/2002 (đã trưởng thành và phát triển bình thường).

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bà Phan Thị Thùy D - bị đơn trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn Q về việc kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, bà không đồng ý ly hôn vì cho rằng cuộc sống vợ chồng mặc dù có mâu thuẫn nhưng bà vẫn còn tình cảm với chồng nên muốn đoàn tụ để chăm lo cho con.

Tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 856/2023/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã quyết định:

Căn cứ Điều 51; Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn Q.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Q được ly hôn với bà Phan Thị Thùy D.

- Về con chung: Ông Q và bà D có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quang D1, giới tính N, sinh ngày 05/10/2002 (đã trưởng thành).

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, Tòa án không giải quyết.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/9/2023 bà Phan Thị Thùy D kháng cáo Bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị đơn bà Phan Thị Thùy D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý ly hôn với lý do vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng nên yêu cầu đoàn tụ với ông Nguyễn Văn Q để vợ chồng cùng chăm lo cho con.

- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q không rút đơn khởi kiện, không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Thùy D đồng thời đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền.

Trong giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tuân thủ thời hạn chuẩn bị xét xử, giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn luật định.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng nguyên tắc xét xử, đảm bảo cho các bên đương sự được phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm và tranh luận; các đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

- Về hình thức đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Phan Thị Thùy D còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

- Về nội dung kháng cáo: Qua lời trình bày của các bên đương sự tại phiên tòa phúc thẩm đồng thời xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ thể hiện tại hồ sơ, xét thấy: Trong quá trình tố tụng, bà Phan Thị Thùy D và ông Nguyễn Văn Q đều xác định cuộc sống chung của cả hai có phát sinh mâu thuẫn làm cho hôn nhân không đạt được mục đích, do đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Q là có căn cứ.

Phan Thị Thùy D kháng cáo yêu cầu được đoàn tụ nhưng không đưa ra được biện pháp để hàn gắn nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân quận T.

- Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Phan Thị Thùy D phù hợp với quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên có cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung kháng cáo: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2002, Quyển số: I/D2, ngày 20/3/2002 của Ủy ban nhân dân Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn Q và bà Phan Thị Thùy D là hợp pháp.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Phan Thị Thùy D kháng cáo không đồng ý ly hôn, các nội dung khác không có đương sự nào kháng cáo. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, phạm vi xét xử phúc thẩm chỉ xem xét lại phần Bản án sơ thẩm có kháng cáo, các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xét.

Xét kháng cáo của bà Phan Thị Thùy D về việc không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn Q, Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi kết hôn, theo lời trình bày của bà D và ông Q thì cả hai có khoảng thời gian chung sống hạnh phúc, ông Q cho rằng mâu thuẩn vợ chồng xuất phát từ việc bà D hay cờ bạc dẫn đến nợ nần, vợ chồng thường xuyên cãi vã, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung làm cho tình cảm phai nhạt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; trong quá trình tố tụng, bà D cho rằng tuy vợ chồng có mâu thuẫn như lời trình bày của ông Q nhưng không đến mức phải ly hôn nên bà D yêu cầu được đoàn tụ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cả ông Q và bà D đều xác định về nguyên nhân xung đột gia đình và thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng là có thật; bên cạnh đó, việc không sống chung với nhau trong khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nên có cơ sở xác định cả ông Q và bà D đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Q là có cơ sở. Bà D kháng cáo cho rằng vẫn còn tình cảm với chồng nên không đồng ý ly hôn, tuy nhiên kể từ lúc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đến nay, ông Q và bà vẫn sống ly thân; ngoài ra, bà D cũng không đưa ra được giải pháp nào để chứng minh vợ chồng còn có cơ hội hàn gắn. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà D, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm về việc cho ly hôn giữa ông Nguyễn Văn QPhan Thị Thùy D như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.

[3]. Những nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

[4]. Về án phí: Do không được Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo nên bà D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phan Thị Thùy D.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 856/2023/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Q được ly hôn với bà Phan Thị Thùy D.

- Về con chung: Ông Q và bà D có 01 (một) con chung tên Nguyễn Quang D1, giới tính N, sinh ngày 05/10/2002 (đã trưởng thành).

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

3. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Q chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai số AA/2022/0014038 ngày 15/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Q đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Thùy D chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai số AA/2023/0006579 ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà D đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thu Phương

Lưu Thị Thủy T

Đặng Thị Bích L

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TPHCM;
  • - Tòa án nhân dân Quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS Quận Tân Phú;
  • - UBND Phường 2, quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Bích Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1232/2023/HNGĐ-PT ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1232/2023/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger