|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2023/DS-ST
Ngày: 30/11/2023
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
và hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Trường
- Ông Nguyễn Văn Bỉnh
– Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Giàu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 31/10 và 30/11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 138/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐST - DS ngày 20 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2023/QĐST – DS, ngày 11 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: 1/ Bà Nguyễn Thị Thanh
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Ba
Trú tại: ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị Thu B: Bà Nguyễn Thị Mỹ L (có mặt)
Trú tại: số B, đường C, phường H, quận N, TP Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Cao T3 (có mặt)
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Kim V (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Tiến
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L (có mặt)
- Bà Tô Thị T6 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn N (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị C (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Tô Thị Mỹ N1 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Tô Hương G (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Tô C1 (có mặt)
- Chị Nguyễn Tô Kim N2 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn C2 (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Ngân hàng N3
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T5: Bà Nguyễn Thị Kim V (Văn bản ủy quyền ngày 06/8/2019) (có mặt)
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Trú tại: số B, đường C, phường H, quận N, TP Cần Thơ.
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Trú tại: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V1 – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền tố tụng: Ông Võ Thanh H – Giám đốc Ngân hàng N3 - Chi nhánh huyện C, tỉnh Hậu Giang. (có mặt)
Đ chỉ: ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị Mỹ L trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha, mẹ bà Nguyễn Thị T2 cho bà T2. Gia đình bà canh tác với diện tích 2164m² gồm 04 thửa. Trong đó thửa 320 có diện tích 120m² và thửa 323 có diện tích 210m² (do làm lộ giới còn lại là 155m²). Phần đất được cấp năm 1997. Hai thửa đất giáp với đất ông Nguyễn Cao T3. Năm 2005 bà T2 và ông T3 có chuyển nhượng cho bà Lư Diệu T7 một phần đất. Sau đó bà T2 đưa giấy tờ cho ông T3 tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với bà T7. Khi nhận lại giấy đất bà T2 không kiểm tra lại. Ngoài ra, quá trình sử dụng bà T2 có cho bà Nguyễn Thị T8 một cái bờ khoảng 155m², cho vào năm 1985. Quá trình sử dụng bà T8 chết và để lại đất cho bà Nguyễn Thị Kim V canh tác đến nay. Do phần đất bà T2 đang sử dụng nằm trong giấy đất của ông T3. Ông T3 chỉ ranh đất lấn sang nhà và đất của nguyên đơn nên nguyên đơn không đồng ý, yêu cầu ông T3 trả lại phần đất lấn chiếm. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp cho nguyên đơn theo đo đạc thực tế diện tích ở các phần đất được ghi chú hiện trạng nhà là 3, 4 theo sơ đồ đo đạc.Ngoài ra các nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với phần đất vị trí nhà của bị đơn Nguyễn Cao T3 với diện tích 93,8m². Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn đối với 90m2 thổ cư mà bị đơn cho rằng bà T2 bán cho bị đơn.
Tại các lời khai của bị đơn ông Nguyễn Cao T3 trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha ông là ông Nguyễn Văn N. Sau đó ông N cho lại ông đứng tên sử dụng vào năm 1997. Năm 2005 ông có chuyển nhượng của bà T2 90m² đất và được cấp giấy cùng năm với diện tích 934,4m². Phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp nên không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Ông yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật phần đất của ông thì công nhận cho ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim V trình bày: Trên phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn Nguyễn Cao T3 có nền mộ và cây trồng trên đất là do bà đang quản lý sử dụng. Nguồn gốc đất là do ông Nguyễn Văn N cho mẹ bà là bà Nguyễn Thị T8 sau giải phóng khoảng 600m² và một phần do bà T2 cho. Bà T8 được cấp giấy năm 1997, sau đó bà Nguyễn Thị T5 (là chị của bà V) hưởng thừa kế đứng tên trên giấy, sau đó bà T5 bị bệnh tai biến và để cho bà sử dụng phần đất từ năm 2011 đến nay, có lập hợp đồng tặng cho. Bà là người trực tiếp trồng cây trên đất, khi mẹ bà chết năm 1999 và cha bà chết năm 2011 bà chôn cất trên phần đất này. Năm 2014 bà xây nhà mồ kiên cố. Ông T3 cho rằng đất của ông T3 là không đúng. Phần đất gia đình bà đã sử dụng từ lâu, trồng cây và chôn cất cha, mẹ nên bà yêu cầu công nhận phần đất cho bà đang quản lý sử dụng (là phần đất có cây trồng và có nền mộ) theo đo đạc thực tế cho bà ở phần ghi chú 1 và 2 trên lược đồ thửa đất vì phần đất này thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T2. Nếu phần đất số 2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn Nguyễn Cao T3 bà đồng ý trả lại.
3
Bà Tô Thị T6 trình bày: Thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Cao T3. Yêu cầu sử dụng theo đúng giấy đất đã được cấp.
Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị C trình bày: Phần đất của ông Nguyễn Cao T3 thì để ông T3 toàn quyền quyết định, ông bà không ý kiến gì.
Ông Nguyễn Văn C2 trình bày: Ông có mua đất của ông Nguyễn Cao T3 một phần đất vị trí nhà ông đang ở. Trong vụ án này ông không có yêu cầu, nếu phát sinh tranh chấp ông sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Ngân hàng N3 có đại diện theo ủy quyền ông Võ Thanh H trình bày: Ông Nguyễn Cao T3 và bà Tô Thị T6 có vay của Ngân hàng 100.000.000 đồng vào ngày 16/11/2018 và Ngân hàng có giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T3 đứng tên, không có thế chấp quyền sử dụng đất. Nay Ngân hàng yêu cầu ông T3 phải trả nợ cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 31/10/2023 là 100.000.000 tiền gốc và tiền lãi trong hạn và quá hạn là 68.558.116 đồng. Và lãi phát sinh đến khi trả nợ xong. Riêng đối với khoản vay của bà Nguyễn Thị T5, bà đã trả nợ xong, Ngân hàng không ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Kim V, chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N3. Ngoài ra còn đề nghị về án phí và chi phí tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm, do ông T3 xác lập quyền sử dụng đất trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng là không đúng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đối với phần đất nguyên đơn và bị đơn tranh chấp, Ngân hàng N3 có yêu cầu bị đơn trả nợ theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị Thu B với bị đơn Nguyễn Cao T3, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim V, theo đo đạc thực tế có diện tích 321m² được ghi chú ở phần 1, 2, 3, 4 theo mảnh trích đo địa chính số 608, ngày 24/11/2023. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, sơ đồ thửa đất và lời khai của nguyên đơn, bị đơn ông T3, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà V thì phần đất ở vị trí số 3 có diện tích 52,2m² là phần nhà của bà T2 đang sử dụng nguyên đơn và bị đơn thống nhất không tranh chấp. Phần tranh chấp có vị trí 4, với diện tích 19,7 m² gồm đầu ngoài giáp lộ nông thôn 0,95m và đầu trong giáp nhà ông T3 1,31m nằm trong tổng diện tích nhà bà T2 đang quản lý, sử dụng. Nguyên đơn cho rằng ông T3 chỉ ranh đất của ông T3 lấn vô nhà nguyên đơn là không đúng, ông T3 cho rằng đất của ông được cấp giấy đến vị trí mà ông chỉ nên nguyên đơn phải di dời nhà trả lại đất cho ông. Theo biên bản thẩm định thể hiện nhà của bà T2 được chia làm 02 phần nhà. Theo nguyên đơn 01 phần nhà bà T2 cất năm 2004 nhà sau, và phần nhà bà T2 cất năm 2002 nhà trước. Ông T3 thống nhất phía trước do bà T2 xây dựng còn nhà phía sau do ông xây dựng vào năm 2005. Theo tài liệu chứng cứ trong hồ sơ cho thấy diện tích đất tranh chấp (ghi chú phần số 3) thuộc thửa 323 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T2, các đương sự thừa nhận không tranh chấp. Mặt khác, từ khi bà T2 cất nhà kiên cố đến nay thì ông T3 cũng không có tranh chấp gì lý do ông T3 cho rằng là bà con nên ông vẫn để bà T2 ở. Ông T3 cho rằng 01 phần nhà trên đất tranh chấp do ông xây dựng nhưng không có có căn cứ để chứng minh. Chứng tỏ việc sử dụng đất và cất nhà trên đất của bà T2 là phù hợp, ông T3 chỉ ranh đất qua phần nhà của bà T2 là không có căn cứ, vì phần nhà thống nhất liền khối và hiện nay phần số 4 diện tích chỉ 19,7m² không xác định được nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn hay bị đơn, vì thực tế đo đạc đất của nguyên đơn và bị đơn đều thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, lý do sạt lỡ đất và nhiều lần làm lộ nông thôn. Nên công nhận phần đất có diện tích 19,7m² ở phần ghi chú số 4 cho nguyên đơn theo thực tế sử dụng.
[3] Đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Bị đơn Nguyễn Cao T3 cho rằng phần đất nằm trong diện tích 90m² mà ông đã chuyển nhượng của bà T2 vào năm 2005, ông T3 cho rằng đã nhập vào phần đất diện tích 934,4 m² ông đang quản lý sử dụng nên không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nguyên đơn cũng không có yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Đối với phần đất tranh chấp ghi chú số 1, có diện tích 108,1m² được thể hiện nằm trong thửa đất số 322 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Cao T3 đứng tên. Về nguồn gốc đất bà V, ông T3 thừa nhận có nguồn gốc là của ông bà để lại. Bà V thì cho rằng gia đình bà sử dụng đất từ sau giải phóng, và bà trực tiếp canh tác từ năm 2011 nhưng đất nằm trong giấy của ông T3 là không đúng, ông T3 thì cho rằng đất ông được cấp giấy thì của ông sử dụng. Ông T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông lại không sử dụng, trong khi đó bà V là người sử dụng liên tục, trồng cây trái trên đất, xây hố đốt rác, và phần đất phía sau còn xây nền mộ trên đất có mồ mã của cha mẹ bà V, bản thân ông T3 không trực tiếp canh tác phần đất, cũng không có ý kiến hay phản đối gì lúc bà V sử dụng đất và chôn cất cha, mẹ. Vì vậy, công nhận phần đất cho bà Nguyễn Thị Kim V.
[5] Đối với phần đất có diện tích 141m² ở phần ghi chú số 2. Bà V cho rằng phần đất này bà được bà T2 cho là cái bờ, bà Nguyễn Thị Mỹ L cho rằng phần đất này bà T2 đã cho bà V nên bà V có toàn quyền quyết định, nguyên đơn không có ý kiến. Tuy nhiên, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T3 thể hiện phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông T3 tại thửa 322. Mặt khác, phần đất này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T2. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim V trình bày nếu phần đất không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T2 mà nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T3 thì bà đồng ý trả lại. Vì vậy, buộc bà Nguyễn Thị Kim V trả lại phần đất có vị trí số 2 cho ông Nguyễn Cao T3. Đối với cây trồng trên đất có 01 cây nhãn và 04 cây dừa nhỏ có giá trị không đáng kể và có thể di dời nên buộc bà Nguyễn Thị Kim V di dời để trả lại phần đất cho ông T3. Nếu hết thời hạn 03 tháng mà bà Nguyễn Thị Kim V không di dời cây trồng thì ông Nguyễn Cao T3 có quyền định đoạt, sở hữu.
[6] Xét yêu cầu độc lập của Ngân hàng N3 buộc vợ chồng ông T3 và bà T6 phải trả nợ gốc và lãi tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/10/2023 là 168.558.116 đồng (trong đó tiền gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn và quá hạn là 68.558.116 đồng). Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng được ký kết vào ngày 16/11/2018 giữa Ngân hàng với ông T3 thì Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn hoặc khởi kiện đối với bên vay nếu đến hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vay cố ý không thực hiện nghĩa vụ. Ông T3 không đóng lãi đúng thời hạn nên Ngân hàng yêu cầu ông T3 bà T6 trả nợ là phù hợp. Nên buộc ông T3, bà T6 trả cho Ngân hàng nông nghiệp vốn và lãi tính đến ngày 31/10/2023 số tiền là 168.558.116 đồng. Giữa Ngân hàng với ông T3, bà T6 không ký kết hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo nợ vay, ông T3 chỉ vay tín chấp. Nên Ngân hàng phải giao lại giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Cao T3 để làm thủ tục công nhận đất cho bà Nguyễn Thị Kim V.
[7] Tách yêu cầu khởi kiện giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C2 với ông Nguyễn Cao T3 ra thành vụ án khác khi được sự có yêu cầu.
[8] Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn phần đất tranh chấp vị trí nhà của bị đơn Nguyễn Cao T3 có diện tích 93,8 m² do nguyên đơn rút yêu cầu.
[8] Chi phí thẩm định, định giá tài sản, đo vẽ sơ đồ thửa đất và phí trích lục hồ sơ là 10.450.000 đồng. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu phải chịu mỗi phần bằng nhau. Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nộp xong nên nguyên đơn Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị T9 Ba phải nộp trả cho bà Nguyễn Thị Kim V số tiền 3.483.000 đồng. Bị đơn Nguyễn Cao T3 phải nộp trả cho bà Nguyễn Thị Kim V số tiền 3.483.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
[9] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 300.000 đồng phần không được chấp nhận đối với tranh chấp quyền sử dụng đất và phải chịu án phí 8.427.900 đồng đối với tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim V phải chịu án phí là 300.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lại tạm ứng án phí do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 26, Điều 166, Điều 203 của Luật đất đai;
Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T2 và bà Nguyễn Thị Thu B. Công nhận phần đất có diện tích 19,7m² ở phần ghi chú số 4 theo mảnh trích đo địa chính ngày 24/11/2023, của Công ty TNHH Đ1 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị T2 và Nguyễn Thị Thu B (có sơ đồ kèm theo).
Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Kim V. Công nhận phần đất có diện tích 108,1m² ở phần ghi chú số 1 theo mảnh trích đo địa chính ngày 24/11/2023, của Công ty TNHH Đ1 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim V (có sơ đồ kèm theo).
Công nhận phần đất có diện tích 141m² ở phần ghi chú số 2 theo mảnh trích đo địa chính ngày 24/11/2023, của Công ty TNHH Đ1 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của của ông Nguyễn Cao T3. Buộc bà Nguyễn Thị Kim V phải di dời tài sản trên đất để giao cho ông T3 phần đất mà ông được công nhận (có sơ đồ kèm theo).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn phần đất tranh chấp vị trí nhà của bị đơn Nguyễn Cao T3 có diện tích 93,8 m² do nguyên đơn rút yêu cầu.
Buộc Ngân hàng N3-Chi nhánh huyện C, tỉnh Hậu Giang phải giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AC 551472, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H 00040, do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 14/9/2005 cho ông Nguyễn Cao T3 để làm thủ tục công nhận phần đất cho bà Nguyễn Thị Kim V.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N3. Buộc ông Nguyễn Cao T3 và bà Tô Thị T6 trả cho Ngân hàng N3 tổng số tiền 168.558.116 đồng, trong đó: nợ gốc 100.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn và quá hạn là 68.558.116 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo (ngày 01/11/2023) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã đóng theo biên lai số 0018180 ngày 14/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim V phải chịu 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí, chuyển 300.000 đồng tạm ứng án phí bà V đã đóng theo biên lai số 0021545 ngày 12/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Bà Nguyễn Thị Kim V đã nộp xong.
Bị đơn ông Nguyễn Cao T3 phải chịu là 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Cao T3 và bà Tô thị T10 phải chịu 8.427.900 đồng tiền án phí tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngân hàng N3. Ngân hàng N3 được nhận lại 2.670.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0021475 ngày 28/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Chi phí thẩm định, định giá tài sản, đo vẽ sơ đồ thửa đất và phí trích lục hồ sơ là 10.450.000 đồng. Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim V đã nộp xong nên nguyên đơn Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị T9 Ba phải nộp trả cho bà Nguyễn Thị Kim V số tiền 3.483.000 đồng. Bị đơn Nguyễn Cao T3 phải nộp trả cho bà Nguyễn Thị Kim V số tiền 3.483.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc V2 |
9
Bản án số 123/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 123/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T Nguyễn Cao T
