|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HS-PT
Ngày 30-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Bùi Thị Thu Hằng |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Kiên |
| Bà Bùi Thị Thúy Hà |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 99/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lã Thị T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2004/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lã Thị T, sinh năm 1977, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số C, phố T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lã Đắc T1 và con bà Vũ Thị T2; có chồng là Bùi Quang T3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/12/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 18 giờ ngày 30/10/2023, tổ công tác Công an phường D làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực ngã ba C, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng đã bắt quả tang Lã Thị T thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số đề tại khu vực vỉa hè khách sạn Công Đoàn, đối diện nhà số C đường D, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, thu giữ vật chứng gồm: 11 tem đề, số tiền 410.000 đồng, 01 điện thoại Iphone XS max màu trắng, 01 xe môtô Honda Vision Biển kiểm soát 15B3-654.97. Sau đó, đưa T và vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Lã Thị T khai nhận: Từ khoảng tháng 8/2023, T nhận bán đề thuê cho 01 nữ giới tên H (chưa rõ lai lịch) để hưởng phần trăm hoa hồng theo mức đề 05%, bao 04%, ba càng 30%, xiên 12% trên tổng số tiền bán được của từng loại. Khoảng 16h40' ngày 30/10/2023, T mang giấy, bút, tem đề và bảng đề rồi điều khiển xe môtô Biển kiểm soát 15B3-654.97 từ nhà đến khu vực vỉa hè khách sạn C, đối diện cửa nhà số C đường D để bán số đề. Hình thức bán số đề được T thực hiện như sau: Khi có người đến mua số đề trực tiếp thì T ghi tem đề và đưa 01 tem chính cho khách, 01 tem đề phụ in bằng giấy than lưu lại làm căn cứ trả thưởng cho khách. Khi ghi tem đề cho khách thì ghi cụ thể các thông tin loại số đề mà khách mua gồm: số đề, đề đầu đuôi, ba càng, bao, bao xiên 2,3,4... cùng với số tiền khách mua nhưng giảm 1000 lần so với số tiền thực tế. Ngoài ra, T cũng bán đề bằng hình thức nhắn tin qua ứng dụng mạng xã hội zalo và gọi điện thoại cho khách nhưng không ghi tem đề mà vào trực tiếp bảng đề. Sau đó, T chụp ảnh bảng đề rồi chuyển qua ứng dụng mạng xã hội zalo cho H. Tiền thắng thua khi bán số đề T sẽ tự thanh toán với khách, đến ngày hôm sau sẽ thanh toán với H khi H đến chỗ T bán đề.
Kết quả thắng thua sẽ dựa vào kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào 18 giờ 30 phút hàng ngày. “Số đề” căn cứ vào kết quả của hàng đơn vị và hàng chục của giải đặc biệt để so kết quả. “Đề đầu, đuôi” cũng tương tự như số đề nhưng là bộ gồm 10 số đề có số đầu (số hàng chục) hoặc số đuôi (số hàng đơn vị) giống nhau. “Ba càng” căn cứ vào kết quả của hàng trăm, hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt để so kết quả. “Số bao” căn cứ vào kết quả số hàng chục và hàng đơn vị của tất cả 27 giải để so kết quả. “Bao xiên 2,3,4” gồm bộ B - 3 - 4 số bao và căn cứ vào kết quả số hàng chục và hàng đơn vị của tất cả 27 giải để so kết quả.
Nếu trúng thưởng thì “Số đề, Đề đầu đuôi” nhận được gấp 90 lần số tiền bỏ ra, “Ba càng” nhận gấp 400 lần số tiền bỏ ra, “bao” nhận gấp 3,5 lần số tiền bỏ ra, “Bao xiên 2,3,4” nhận gấp lần lượt 15 lần, 48 lần, 180 lần số tiền bỏ ra. Nếu các số đề, số bao không trùng khớp với các giải tương ứng trong kết quả xổ số miền B thì khách sẽ thua số tiền đã bỏ ra mua số đề, số bao.
Số tiền đánh bạc trong 11 tem đề thu giữ ngày 30/10/2023 của T xác định là 3.110.000 đồng. Số tiền đánh bạc thông qua hình thức nhắn tin Z và gọi điện thoại là 2.240.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 30/10/2023 của T là 5.350.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 410.000 đồng là tiền T có được từ việc bán số đề trực tiếp cho khách. T đã giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 960.000 đồng là tiền T có được từ việc bán đề do khách chuyển khoản. Có sự chênh lệch giữa số tiền thu được và số tiền khách đánh đề là do có khách hàng còn nợ chưa trả tiền cho T.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu khôi phục lại, trích xuất toàn bộ dữ liệu, tin nhắn, dữ liệu Zalo đối với 01 điện thoại Iphone XS Max thu giữ của T. Kết quả thể hiện cuộc gọi điện thoại và tin nhắn giữa các tài khoản Zalo liên quan đến việc khách mua số đề và Lã Thị T chuyển bảng đề ngày 30/10/2023.
Tại Bản Cáo trạng số 101/CT-VKSLC ngày 02 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân đã truy tố Lã Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lã Thị T 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng hình phạt chính là phạt tiền, bị cáo không có ý kiến gì về tội danh và khung hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và mức hình phạt như trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có đơn xin Hội đồng phúc thẩm xử phạt bị cáo hình phạt chính là phạt tiền. Mặt khác, bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm; gia đình bị cáo có bản cam kết sẽ cùng địa phương giáo dục bị cáo để bị cáo không tái diễn việc bán số đề. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng bảo đảm việc cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt tiền là hình phạt chính ở mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/6/2024, bị cáo Lã Thị T có đơn kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị. Kháng cáo bị cáo Lã Thị T trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Hồi 18 giờ ngày 30/10/2023, tại khu vực vỉa hè khách sạn C, đối diện nhà số C đường D, Quận L, thành phố Hải Phòng; Lã Thị T đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số đề với tổng số tiền đánh bạc là 5.350.000 đồng nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lã Thị T đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Lã Thị T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lã Thị T 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo xin được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, Hội đồng xét xử nhận định sau:
[3] Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, đồng thời áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo trong khung hình phạt là không nặng.
[4] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: Bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm; gia đình bị cáo có Bản cam kết sẽ cùng địa phương giám sát, giáo dục bị cáo để bị cáo không tái diễn lại hành vi bán số đề. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo Lã Thị T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo có mức độ, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xét bị cáo có đơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp một khoản tiền tại Cơ quan Thi hành án để bảo đảm cho việc chấp hành hình phạt chính là phạt tiền. Vì vậy, xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng bảo đảm việc cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự để phạt tiền là hình phạt chính và áp dụng phạt tiền ở mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.0000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét bị cáo được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Từ những phân tích trên, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm, chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn.
[7] Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Lã Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Lã Thị T số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Ghi nhận bị cáo Lã Thị T đã nộp đủ số tiền phạt 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003260 ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lã Thị T kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lã Thị T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lã Thị T đã nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0003261 ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- - Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lã Thị T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |
Bản án số 123/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 123/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hình sự phúc thẩm xét xử về tội Đánh bạc
