Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/DS-ST

Ngày: 30/7/2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRỊ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Tân.

Ông Trần Văn Chu.

Thư ký phiên Tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 365/2023/TLST – DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2024/QÐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lưu Thị N, sinh năm 1969 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Số B khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
    1. Chị Nguyễn Thị Loan T, sinh năm 1997 (vắng mặt);
    2. Chị Võ Thị Thu H, sinh năm 2000 (vắng mặt);
  • Cùng địa chỉ: Đường N, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • Chị Nguyễn Thị Loan T, chị Võ Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 15/7/2024.
  • - Bị đơn: Trần Thị P (Trần Thị R), sinh năm 1980 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: Số B khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • Trần Thị P (Trần Thị R) có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 17/7/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 07/9/2023, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2024 và trong quá trình tố tụng sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Do có quen biết với bà Trần Thị P (Trần Thị R) nên bà Lưu Thị N có cho bà P vay nhiều lần tiền, mục đích là để bà P bổ sung vốn làm ăn. Việc vay mượn giữa hai bên được lập thành biên nhận mượn tiền, lãi suất hai bên thỏa thuận là 02%/tháng và bà N đã giao đủ tiền cho bà P tại thời điểm bà P ký biên nhận mượn tiền. Cụ thể như sau:

Lần 1, ngày 16/01/2021, bà N cho bà P vay số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng), thời hạn vay là 01 tháng kể từ ngày 16/01/2021 cho đến ngày 16/02/2021, sau đó bà P xin gia hạn thời hạn vay là 12 tháng, trong thời gian vay bà P trả lãi cho bà N từ ngày 16/01/2021 đến ngày 16/01/2022 là 12 tháng là (300.000.000 đồng x 2%/tháng) x 12 tháng = 72.000.000 đồng, từ ngày 17/01/2022 cho đến nay bà P chưa trả vốn, lãi cho bà N.

Lần 2, ngày 23/12/2022, bà N cho bà P vay số tiền 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu đồng), nhưng trong biên nhận mượn tiền bà P lấy tên thường gọi ở địa phương là Trần Thị R để ký nhận. Thời hạn vay là 09 ngày kể từ ngày 23/12/2022 cho đến ngày 31/12/2022, bà P chưa trả vốn và lãi cho bà N. Tổng số tiền mà bà P (Rồi) đã vay của vay của bà N là 680.000.000₫ (Sáu trăm tám mươi triệu đồng). Đến nay đã hết thời hạn vay của các hợp đồng vay tiền nhưng bà P không trả vốn và lãi cho bà N mặc dù bà N đã nhiều lần yêu cầu, bà P cố tình không trả.

Vì vậy, nay bà Lưu Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xem xét, giải quyết buộc bà Trần Thị P (Trần Thị R) hoàn trả cho bà N tổng số tiền vay là: 680.000.000 đồng (Sáu trăm tám mươi triệu đồng) và lãi suất 20%/năm kể từ ngày bà P vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án. Cụ thể:

  • - Đối với số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), bà N yêu cầu tính lãi từ ngày 17/01/2022. Lãi suất tạm tính từ ngày 17/01/2022 đến ngày 10/6/2024, lãi suất 20%/năm, cụ thể (300.000.000₫ x 20%/năm) x 28 tháng 24 ngày = 143.424.000 đồng (Một trăm bốn mươi ba triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
  • - Đối với số tiền 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu đồng), bà N yêu cầu tính lãi từ ngày 24/12/2022. Lãi suất tạm tính từ ngày 24/12/2022 đến ngày 10/6/2024, lãi suất 20%/năm, cụ thể (380.000.000₫ x 20%/năm) x 16 tháng 17 ngày = 104.502.000 đồng (Một trăm lẻ bốn triệu năm trăm lẻ hai nghìn đồng).

Như vậy, tổng cộng vốn và lãi đối với 02 khoản vay trên bà N yêu cầu bà Trần Thị P (Trần Thị R) trả là: 927.926.000 đồng (Chín trăm hai mươi bảy triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn đồng) và yêu cầu tiếp tục trả lãi đến khi giải quyết xong.

Chứng cứ của nguyên đơn khởi kiện là: Biên nhận vay tiền có chữ ký tên xác nhận của bà Trần Thị P (Trần Thị R) đề ngày 16/01/2021 và ngày 23/12/2022.

* Tại Bản tự khai (Bút lục 26) và trong quá trình tố tụng sơ thẩm bị đơn bà Trần Thị P (Trần Thị R) trình bày như sau:

Bà có tên trong giấy tờ là Trần Thị R, ở ngoài thường gọi là P. Bà thừa nhận có mượn bà N tổng số tiền là 680.000.000 đồng. Tại biên nhận mượn tiền ngày 16/01/2021 và biên nhận mượn tiền ngày 23/12/2022, bà thừa nhận đây là chữ ký của bà. Qua yêu cầu khởi kiện của bà N, bà thừa nhận có nợ tiền bà N và đồng ý trả số tiền con nợ là 680.000.000 đồng cho bà N. Bà xin được trả dần số tiền còn nợ mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ và xin không trả lãi. Hiện nay, do bà không có nghề nghiệp gì hết nên không có khả năng trả lãi

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thấy rằng Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị N, buộc bà Trần Thị P (Trần Thị R) phải trả cho bà N số tiền 680.000.000đ + lãi suất.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

  • [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
  • Lưu Thị N khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị P (Trần Thị R) phải trả số tiền nợ vay và không yêu cầu tính lãi suất. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • [2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị P (Trần Thị R) có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại khu phố A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.
  • [3] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lưu Thị N và bị đơn bà Trần Thị P (Trần Thị R) có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định.

Về nội dung vụ án:

  • [4] Xét chứng cứ do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án (bút lục 31, 32), nhận thấy:
  • Trần Thị P (Trần Thị R) thừa nhận chữ ký trên biên nhận mượn tiền ngày 16/01/2021 và ngày 23/12/2022 đều là đúng, đây là chữ ký của bà.
  • Như vậy, có cơ sở để xác định chứng cứ là biên nhận mượn tiền ngày 16/01/2021 và ngày 23/12/2022 mà nguyên đơn đã cung cấp là có thật. Theo đó, xác định được vào ngày 16/01/2021 và ngày 23/12/2022, bà Trần Thị P (Trần Thị R) thừa nhận có vay và còn nợ tổng số tiền vốn vay của bà Lưu Thị N là 680.000.000 đồng là đúng sự thật. Căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết mà nguyên đơn không cần phải chứng minh.
  • [5] Do đó, bà Lưu Thị N khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị P (Trần Thị R) phải trả cho bà N tổng số tiền vốn đã vay 680.000.000 đồng là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • [6] Xét về lãi suất: Do bà Trần Thị P (Trần Thị R) chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên bà Lưu Thị N yêu cầu trả lãi từ ngày vi phạm nghĩa vụ cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm với mức lãi suất 20%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể:
    • - Đối với số tiền 300.000.000 đồng, bà N yêu cầu tính lãi từ ngày 17/01/2022. Lãi suất tính từ ngày 17/01/2022 đến ngày 30/7/2024 (30 tháng 15 ngày), lãi suất 20%/năm, cụ thể:
    • (300.000.000 đồng x 20% : 12 tháng x 30 tháng) + (300.000.000 đồng x 20%: 12 tháng: 30 ngày *15 ngày) = 152.500.000 đồng.
    • - Đối với số tiền 380.000.000 đồng, bà N yêu cầu tính lãi từ ngày 24/12/2022. Lãi suất tính từ ngày 24/12/2022 đến ngày 30/7/2024 (19 tháng 07 ngày), lãi suất 20%/năm, cụ thể:
    • (380.000.000 đồng x 20% : 12 tháng x 19 tháng) + (380.000.000 đồng x 20% : 12 tháng: 30 ngày * 07 ngày) = 121.811.111 đồng.
    • Như vậy, tổng và lãi bà Trần Thị P (Trần Thị R) có nghĩa vụ trả cho bà N là 152.500.000 đồng (lãi) + 121.811.111 đồng (lãi) = 274,311,111 đồng.
  • [7] Do đó, tổng số tiền bà Trần Thị P (Trần Thị R) có nghĩa vụ trả cho bà Lưu Thị N là 954,311,111 đồng (Chín trăm năm mươi bốn triệu ba trăm mười một nghìn một trăm mười một đồng).
  • [8] Xét lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  • [8] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
  • Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Do yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận toàn bộ, bà Trần Thị P (Trần Thị R) phải chịu án phí theo quy định, số tiền án phí được tính là 40.629.333 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị N với bà Trần Thị P (Trần Thị R) về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  2. Buộc bà Trần Thị P (Trần Thị R) phải có nghĩa vụ trả cho bà Lưu Thị N tổng số tiền là 954,311,111 đồng (Chín trăm năm mươi bốn triệu ba trăm mười một nghìn một trăm mười một đồng).
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
    • Trần Thị P (Trần Thị R) phải chịu 40.629.333 đồng (Bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
    • Hoàn trả cho bà Lưu Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.921.000 đồng (Hai mươi hai triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001459 ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.146.000 đồng (Ba triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001263 ngày 10 tháng 6năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày), kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (phòng KTNV và THA);
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 123/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị N với bà Trần Thị P (Trần Thị R) về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. 2. Buộc bà Trần Thị P (Trần Thị R) phải có nghĩa vụ trả cho bà Lưu Thị N tổng số tiền là 954,311,111 đồng (Chín trăm năm mươi bốn triệu ba trăm mười một nghìn một trăm mười một đồng). 4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 5. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Trần Thị P (Trần Thị R) phải chịu 40.629.333 đồng (Bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Hoàn trả cho bà Lưu Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.921.000 đồng (Hai mươi hai triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001459 ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.146.000 đồng (Ba triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001263 ngày 10 tháng 6năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger