|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/8/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Tân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Sơn
Ông Đầu Khắc Dinh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thu H — Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 111/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thùy L, sinh năm 2004, “Vắng mặt”.
- Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Bị đơn: Anh Quách Minh H1, sinh năm: 1998, “Vắng mặt”.
- Nơi ĐKHKTT và địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Nơi ở hiện nay: Đài Loan
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thùy L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Quách Minh H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, vào ngày 01/3/2023 và có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương. Sau khi cưới, vợ chồng sinh sống hạnh phúc được một thời gian ngắn vì điều kiện kinh tế gia đình nên anh H1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Trong quá trình anh H1 đi Đài Loan thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp vợ chồng không có tiếng nói chung, chị L nhiều lần đề nghị ly hôn nhưng anh H1 cố tình gây khó khăn không cung cấp địa chỉ cho chị ở nước ngoài. Nay chị L xét thấy tình cảm giữa chị và anh H1 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Quách Gia V, sinh ngày 28/02/2022. Ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu V cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị L trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh H1 tại Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh H1 từ gia đình.
Tại các biên bản lấy lời khai, bà Quách Thị A trình bày:
Bà A là mẹ đẻ của anh Quách Minh H1. Vợ chồng anh H1 và chị L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi cưới hai vợ chồng sống chung với gia đình bà, trong thời gian sống chung bà không thấy vợ chồng có mâu thuẫn gì chỉ có xích mích nhỏ. Cuối tháng 3 năm 2024 thì anh H1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó đến nay chưa về thăm gia đình lần nào. Nay chị L làm đơn xin ly hôn gia đình cũng đã báo cho anh H1 biết, quan điểm của anh H1 cũng đồng ý ly hôn, còn quan điểm của gia đình đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con: Anh H1 và chị L có 01 con chung là cháu là cháu Quách Gia V, sinh ngày 28/02/2022, hiện nay cháu đang ở với chị L nhưng chị L đi làm ăn xa, kinh tế gia đình chị L và ông bà ngoại không đảm bảo nên đề nghị Tòa án giao con cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, trong thời gian anh H1 đi vắng thì bà cùng gia đình sẽ chăm sóc cháu V.
Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng anh H1, chị L không có tài sản chung và nợ chung.
Bà A đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh H1 được biết, vì gia đình vẫn thường xuyên liên lạc với anh H1 nhưng không biết địa chỉ cụ thể anh H1 đang sống tại Đài Loan.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc thực hiện các thủ tục kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định.
- - Về nội dung: Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 477; Điều 478 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Thùy L, xử cho chị L được ly hôn anh H1. Về con: Giao cháu Quách Gia V, sinh ngày 28/02/2022 cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không yêu cầu anh H1 phải đóng góp tiền nuôi con chung.
- - Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 5 Điều 27 NQ 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án để xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền của Tòa án:
Chị Lê Thị Thùy L là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là anh Quách Minh H1 hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Chị L chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh H1 ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh H1 tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu nhưng bà Quách Thị A là mẹ đẻ của anh H1 trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh H1 ở Đài Loan. Tuy anh H1 thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Gia đình bà A vẫn thường xuyên liên lạc với anh H1 nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh H1. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị Thùy L có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Quách Minh H1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về hôn nhân:
Chị Lê Thị Thùy L và anh Quách Minh H1 kết hôn với nhau cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị L đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn, không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau, chị L không có địa chỉ của anh H1 tại Đài Loan nên không cung cấp địa chỉ của anh H1 cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh H1 và chị L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, gia đình anh H1 đã thông báo cho anh H1 biết việc chị L có đơn ly hôn và thông qua lời trình bày của mẹ đẻ anh H1 thì anh H1 cũng đồng ý ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị L được ly hôn anh H1.
[3] Về con:
Vợ chồng chị L và anh H1 có một con chung là cháu Quách Gia V, sinh ngày 28/02/2022. Cháu V hiện đang ở với chị L. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, hiện nay cháu Quách Gia V chưa đủ 36 tháng tuổi, mặt khác anh H1 đang lao động tại Đài Loan không thể trực tiếp nuôi con được. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, cần giao cháu Quách Gia V cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị L tự nguyện không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị L nên chấp nhận.
[4]. Về tài sản, công nợ chung:
Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Anh H1 không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu các đương sự yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[5]. Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 3 Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; Điều 477; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Thùy L.
- - Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Thùy L được ly hôn anh Quách Minh H1 .
- - Về con : Công nhận cháu Quách Gia V, sinh ngày 28/02/2022 là con chung của chị Lê Thị Thùy L và anh Quách Minh H1. Giao cháu Quách Gia V cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Anh Quách Minh H1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Lê Thị Thùy L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị L đã nộp theo Biên lai thu số ký hiệu BLTU/23, số 0000388 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.(Chị L đã nộp đủ án phí).
- - Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Thùy L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Quách Minh H1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tân |
Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
