Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 123/2024/DS-ST

Ngày: 28-9-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng
  2. Ông Hoàng Quốc Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Trúc Lâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 232/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 232/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, trụ sở: Lầu H, 2 N, phường H, quận C, Tp Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện ủy quyền: Bà Dương Thị Bích T, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP S – chi nhánh S1, ông Trương Đình V, chức vụ: chuyên viên quản lý nợ, cùng địa chỉ: B N, phường H, quận H, Tp Đà Nẵng. Ông V có mặt.

-Bị đơn: Bà Võ Ngọc Minh P sinh năm 1986, nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường C, quận T, Tp Đà Nẵng. Hiện trú tại: K Hải Phòng, phường C, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 21 tháng 6 năm 2024; bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trương Đình V trình bày:

Ngày 22/11/2017, bà Võ Ngọc Minh P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, tính từ ngày 31/8/2022 bà P đã thực hiện 10 giao dịch với tổng số tiền 504.557.121 đồng. Lãi suất áp dụng 2,15%/ tháng, từ ngày 15/8/2019 lãi suất 2,6%/ tháng, từ ngày 01/11/2022 lãi suất 2,76%/ tháng (lãi suất trong hạn) và được S2 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 520.508.469 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 29/02/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 13/6/2024, bà P còn nợ ngân hàng các khoản sau: nợ gốc: 49.814.245 đồng; nợ lãi quá hạn: 7.233.765 đồng. Tổng cộng : 57.048.010 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà P có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà P vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Nay, đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Ngọc Minh P phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 28/9/2024 là: 64.419.561 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi bốn triệu, bốn trăm mười chín ngàn, năm trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc: 49.814.245 đồng; Lãi quá hạn: 14.605.316 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 22/11/2017.

Đối với bị đơn bà Võ Ngọc Minh P không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập lệ nhiều lần.

* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến như sau:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn bà Võ Ngọc Minh P được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó bị đơn bà Võ Ngọc Minh P chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Võ Ngọc Minh P phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 28/9/2024 là: 64.419.561 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi bốn triệu, bốn trăm mười chín ngàn, năm trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc: 49.814.245 đồng; Lãi quá hạn: 14.605.316 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 22/11/2017.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về thủ tục và nội dung giải quyết vụ án; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" đối với bị đơn bà Võ Ngọc Minh P, có nơi cư trú tại quận T, Tp Đà Nẵng là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Phiên tòa hôm nay là lần thứ hai bị đơn bà Võ Ngọc Minh P vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét về nội dung khởi kiện:

Ngày 22/11/2017, bà Võ Ngọc Minh P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất áp dụng 2,15%/ tháng, từ ngày 15/8/2019 lãi suất 2,6%/ tháng, từ ngày 01/11/2022 lãi suất 2,76%/ tháng (lãi suất trong hạn) và được S2 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Xét thấy việc giao kết Hợp đồng nói trên là đúng về chủ thể, nội dung Hợp đồng phù hợp với các quy định pháp luật.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, tính từ ngày 31/8/2022 bà P đã thực hiện 10 giao dịch với tổng số tiền 504.557.121 đồng. Bà P đã thanh toán cho Ngân hàng với tổng số tiền 520.508.469 đồng. Đến ngày 29/02/2024 bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà P và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (Dư nợ) sang nợ quá hạn.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà P có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà P vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Ngọc Minh P phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 28/9/2024 là: 64.419.561 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi bốn triệu, bốn trăm mười chín ngàn, năm trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc: 49.814.245 đồng; Lãi quá hạn: 14.605.316 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 22/11/2017 là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Bà Võ Ngọc Minh P phải chịu 3.220.978 đồng (Ba triệu, hai trăm hai mươi ngàn, chín trăm bảy mươi tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.426.200 đồng (Một triệu, bốn trăm hai mươi sáu ngàn, hai trăm đồng) theo biên lai thu số 0001401 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 117, 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Võ Ngọc Minh P về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".

1. Buộc bà Võ Ngọc M P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày ngày 28/9/2024 là: 64.419.561 đồng (Bằng chữ: Sáu mươi bốn triệu, bốn trăm mười chín ngàn, năm trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc: 49.814.245 đồng; nợ lãi quá hạn: 14.605.316 đồng.

Kể từ ngày 29 tháng 9 năm 2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Võ Ngọc M P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: bà Võ Ngọc Minh P phải chịu 3.220.978 đồng (Ba triệu, hai trăm hai mươi ngàn, chín trăm bảy mươi tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.426.200 đồng (Một triệu, bốn trăm hai mươi sáu ngàn, hai trăm đồng) theo biên lai thu số 0001401 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

3. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 123/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger