TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:123/2024/HSST Ngày 28/6/2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM. THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Cồ Khắc Đam |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Bà Nguyễn Thị Chấn 2. Ông Lương Văn Thoại |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cao Đức Lộc, Kiểm sát viên. | |
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử trực tuyến- trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 127/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: S), sinh năm 1991 tại Nam Định; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm H, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Văn T; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L; Bị cáo chưa có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1994(đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: 01 tiền án và 01 tiền sự: Ngày 19/9/2010, Công an quận L xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc. Bản án số 21 ngày 26/4/2019, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (Đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt giam ngày 15/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ ngày 25/7/2023, tổ công tác Công an xã Đ Công an huyện G làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực sảnh S2.17 Khu đô thị V thuộc xã Đ, G, Hà Nội phát hiện bắt quả tang Trần Bích H1 - S: 2002, HKTT: Thôn M, H, Vụ Bản, Nam Định đang có hành vi cất trữ trái phép: 01 (một) túi nilông màu trắng kích thước (9,5 x 5,5)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilông màu trắng kích thước (9,5 x 5,5)cm bên trong có chứa tinh thể mịn màu trắng; 02 (hai) túi nilông màu vàng bên trong đều chất bột màu vàng; 01 (một) gói giấy ăn bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén màu vàng. Tại chỗ H1 khai nguồn gốc số ma túy trên là của bị cáo Nguyễn Văn Đ đưa cho H1 để đi bán cho đối tượng tên Huỳnh Đức T1 (tên gọi khác: Bo) – sinh 1987, HKTT: Đa Tốn, G, Hà Nội để kiếm lời. Tổ công tác thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ của Trần Bích H1: 01 (một) túi nilông màu trắng kích thước (9,5 x 5,5)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilông màu trắng kích thước (9,5 x 5,5)cm bên trong có chứa tinh thể mịn màu trắng; 02 (hai) túi nilông màu vàng bên trong đều chất bột màu vàng; 01 (một) gói giấy ăn bên trong có chứa 04 (bốn) viên nén màu vàng; 01 (một) cân điện tử màu trắng, đen; 01 điện thoại di dộng kiểu dáng Iphone 12 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 0923172703, máy cũ đã qua sử dụng, bị nứt kính sau lưng. 01 chiếc xe máy kiểu dáng Honda Winner BKS 18C1-35345, số máy: KC34E1181939, số khung: RLHKC3708LY108251, màu sơn đen đỏ, xe cũ đã qua sử dụng.
Tại Bản Kết luận giám định số: 5164/KL-KTHS đề ngày 03/8/2023 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận về vật chứng thu giữ của Trần Bích H1:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại Ketamin, tổng khối lượng: 36,532 gam.
- 04 viên nén màu vàng bên trong 01 gói giấy ăn màu trắng đều là ma tuý loại Methamphetamin, tổng khối lượng: 1,785 gam.
- Chất bột màu vàng bên trong 02 túi nilông màu vàng đều có ma tuý loại MDMA, ma tuý loại Methamphetamine và N, tổng khối lượng: 5,682 gam.
- 01 một cân điện tử màu đen - trắng có dính ma tuý Ketamine.
Tại Bản Kết luận giám định số: 6456/KL-KTHS đề ngày 13/9/2023 của V - Bộ C1 kết luận về hàm lượng các chất ma tuý thu giữ của Trần Bích H1:
- Khối lượng chất ma tuý MDMA và Methamphetamine trong 4,557 gam mẫu chất bột màu vàng gửi giám định lần lượt là 0,387 gam và 0,027 gam.
- Lượng Nimetazepam trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp nên không xác định được khối lượng chất ma tuý này trong mẫu.
Tại công văn số 2703/C09-TT2 của V- Bộ C1 trả lời:
- Khối lượng chất ma tuý Methamphetamine và MDMA trong 5,682 gam mẫu chất bột màu vàng gửi giám định lần lượt là 0,033 gam và 0,482 gam. Không có cơ sở để xác định khối lượng chất ma tuý Nimetazepam có trong mẫu.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Văn Đ và đối tượng liên quan Trần Bích H1, Huỳnh Đức T1 khai nhận: Ngày 20/7/2023, Nguyễn Văn Đ mua ma túy Ketamine, ma túy nước vui, ma túy tổng hợp (ma túy kẹo) với tổng số tiền 20.000.000 đồng từ một người đàn ông đứng ven đường ở khu vực T, Bắc Ninh để bán kiếm lời. Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 25/7/2023, T1 sử dụng điện thoại có số thuê bao 0877619808 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Đ có số thuê bao 0973836883 hỏi mua ma túy Ketamine, ma túy nước vui, ma túy tổng hợp (ma túy kẹo) với tổng số tiền 23.000.000 đồng. Đ đồng ý và bảo T1 sẽ có người gọi điện để địa điểm đưa ma túy cho T1. Đến khoảng 19 giờ ngày 25/7/2023, Đ gọi cho H1 qua ứng dụng zalo bảo H1 về căn hộ F toà S2.17 Khu đô thị V thuộc Đ, G, Hà Nội để trông nhà. Khi H1 đi đến cửa thang máy tầng 6 toà S2.17 thì gặp Đ và Đinh Văn H2 - sinh năm: 1998, HKTT: Bản Chiềng Manh, M, P, Sơn La. Đ bảo H2 đưa cho H1 thẻ căn hộ 2218 toà S1.02 thì H2 có đưa cho H1 01 thẻ cứng màu trắng. H1 cầm thẻ rồi về căn hộ 06.08 toà S2.17 được khoảng 10 phút thì Đ gọi điện qua ứng dụng Z bảo H1 sang căn hộ B toà S1.02 Khu đô thị Vinhomes Ocean P lấy 01 bọc giấy ăn màu trắng là ma túy Ketamine, ma túy nước vui, ma túy tổng hợp để trên bàn bếp và 01 cân điện tử màu trắng đen để trong tủ bếp. H1 đồng ý. Khi H1 đi đến căn hộ B tòa S102, H1 gọi zalo cho Đ để Đ đọc mật khẩu mở căn hộ vào lấy 01 bọc giấy ăn màu trắng là ma túy Ketamine, ma túy nước vui, ma túy tổng hợp để trên bàn bếp và 01 cân điện tử màu trắng đen để trong tủ bếp cất vào cạp quần phía trước bụng rồi điều khiển xe máy Honda Winner BKS 18C1-35345 đi sang sảnh S2.17. Khi đến sảnh S2.17, Đ nhắn tin cho H1 nội dung “cầm túi đưa cho anh B”, H1 biết cầm số ma túy trên để đi bán
cho Huỳnh Đức T1 nên H1 nhắn tin trả lời đồng ý. Sau đó, Đ nhắn tin cho H1 xem có hai gói ma tuý nước vui chưa, H1 nhắn trả lời đồng ý và vào nhà vệ sinh trong sảnh S2.17 mở bọc giấy ăn màu trắng đang để trong cạp quần ra kiểm tra thấy bên trong có 01 túi nilông màu trắng bên trong có chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilông màu trắng bên trong có chất tinh thể mịn màu trắng, 02 túi nilông màu vàng, 01 gói giấy ăn bên trong có chứa 04 viên nén màu vàng. H1 thấy đã có 02 gói ma tuý nước vui nên đã bọc lại số ma túy trên cất vào cạp quần phía trước đi ra sảnh S2.17. H1 gọi điện cho T1 qua ứng dụng zalo T1 nhắn trả lời là đứng chờ T1. Khoảng 23 giờ ngày 25/7/2023, khi H1 đang đứng ở sảnh S2.17 Khu đô thị V để bán ma túy cho T1 thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Cơ quan Công an đã tiến hành thân dẫn H1 lên căn hộ 06.08 tòa S217 Khu đô thị V. Tại thời điểm kiểm tra có Lý Thị Bình - Sinh 2002, HKTT: Sú Cáu, H, B, Quảng Ninh; Lương Thị Quỳnh M - Sinh 2004, HKTT: Bản Đình, C, Y, Bắc Giang; Nguyễn Thị H3 - Sinh 2000, HKTT: Xóm G, N, T, Nghệ An; Hầu Thị Phương T2 - Sinh 2004, HKTT: Khấu Lấu, B, Đ, Tuyên Quang; Nguyễn Phương A - Sinh 2002, HKTT: Khu A, Y, U, Quảng Ninh; Trương Thị H4 - Sinh 2001, HKTT: Thọ Trường, T, T, Thanh Hóa. Ngoài ra phát hiện tại chân ghế Sôpha phòng khách trong căn hộ có 01 túi xách màu đen bên trong có 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa 34 viên nén màu cam.
Tại Bản Kết luận giám định số: 5187/KL-KTHS đề ngày 04/8/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận về vật chứng thu giữ tại căn hộ F toà S1.17 Khu đô thị V thuộc xã Đ, G, Hà Nội:
- 34 viên nén màu cam bên trong 01 túi nilông đều là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 16,750 gam./.
Tại cơ quan điều tra Đinh Văn H2 khai nhận: Nguồn gốc 34 viên nén màu cam bên trong 01 túi nilông đều là ma tuý loại Methamphetamine: Ngày 19/07/2023, khi H2 và Đ đang ở căn hộ F toà S2.17 Khu đô thị V thì Đ có đưa cho H2 01 túi nilông màu trắng bên trong có 34 viên nén màu cam là ma tuý loại Methamphetamine và bảo H2 cất khi có khách mua thì Đ sẽ báo H2 mang đi bán cho khách kiếm lời. H2 đồng ý và cất số ma túy trên vào trong chiếc túi xách màu đen của H2 đang để ở cạnh chân ghế sofa trong căn hộ 06.08 toà S2.17 Khu đô thị Vinhomes Ocean P nhưng chưa kịp bán thì ngày 25/7/2023 bị Công an phát hiện thu giữ. Nhưng bị cáo Nguyễn Văn Đ không thừa nhận ngày 19/7/2023, Đ đưa ma túy Methamphetamine cho H2 đi bán,
ngoài lời khai của Đinh Văn H2 không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý hình sự
Quá trình điều tra Đinh Văn H2 còn khai nhận: Đinh Văn H2 và Nguyễn Văn Đ đã thực hiện hai hành vi phạm tội cụ thể:
Hành vi thứ nhất: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 24/7/2023, khi Đinh Văn H2 đang ở Khu đô thị V thuộc xã Đ, G, Hà Nội thì Nguyễn Văn Đ sử dụng số điện thoại 0973.836.xxx gọi vào số điện 0337.419.172 của H2 để bảo H2 đến căn hộ B toà S1.02 Khu đô thị Vinhomes Ocean P lấy túi ma tuý Ketamine “ke” để trên bàn tròn mang về căn hộ F toà S2.17 Khu đô thị V cho Lương Thị Quỳnh M sử dụng. H2 đồng ý. H2 đi đến căn hộ B toà S1.02 H2 cầm 01 túi nilông màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “ke” để trên bàn tròn cất vào túi quần rồi đi sang căn hộ 06.08 toà S2.17 thấy M đang ở trong nhà và Lý Thị B1 đang ngồi ăn cơm tại bàn hình chữ nhật. H2 lấy 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine “ke” để ở trên bàn ăn hình chữ nhật và nói với M ma túy “ke” để trên bàn sử dụng đi rồi vào phòng để ngủ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H2 đi ra phòng khách thì phát hiện trên bàn không còn gói ma túy nên biết M và B1 đã sử dụng hết số ma túy trên. Lời khai của bị cáo Đ phù hợp với lời khai người liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Vật chứng thu giữ của H2: 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave S màu nâu, đen BKS: 25U1-075.64, số khung: 056379, số máy: 1180250, xe cũ đã qua sử dụng.
Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave S màu nâu, số máy: JC52E1180250, số khung: RLHJC5268DY056379, tạm giữ của bị can Đinh Văn H2. H2 khai chiếc xe máy trên do Nguyễn Văn Đ đưa cho H2 để sử dụng. Nguyễn Văn Đ khai mua chiếc xe máy trên của một người đàn ông ở khu vực L vào khoảng năm 2022, đã làm mất giấy tờ xe nên chưa đi sang tên đăng ký được. Đ không biết H2 dùng xe đi bán ma túy ngày 11/8/2023. Qua giám định số khung, số máy xác định anh Trần Cóoc C – sinh 1971, địa chỉ: Tổ E, Phố M, TP L, Lào Cai là chủ sở hữu nhưng có BKS 24B1-535.46. Anh C khai chiếc xe trên do anh C mua năm 2013 đến năm 2014 anh đã bán. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Hành vi thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 11/8/2023, Nguyễn Văn Đ sử dụng số điện thoại 0976.811.xxx gọi vào số điện thoại của H2 là
0337.419.172 bảo H2 lên khu vực hồ điều hoà thuộc phường Đ, L, Hà Nội lấy ma túy bán cho khách. H2 đồng ý điều khiển xe máy kiểu dáng Honda Wave màu nâu đeo BKS: 25U1-075.64 đi đến gặp Đ thì Đ đưa cho H2 01 túi xách đeo chéo màu đen bên trong có 01 lọ nhựa màu hồng bên trong có 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa: 05 viên nén màu cam, 02 viên nén màu vàng và 01 viên nén màu xám. 01 túi nilông bên trong có 01 túi nilông màu vàng trên bề mặt có chữ CHALI bên trong chứa chất bột màu vàng. 02 túi nilông màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 viên nén màu xám. H2 cầm túi sách và số ma túy trên đeo trên người rồi điều khiển xe máy đi về khu vực Khu đô thị V, G, Hà Nội. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ sử dụng số điện thoại 0976.811.xxx gọi vào số điện thoại 0337.419.xxx của H2 bảo H2 liên lạc với người mua qua điện thoại 0352.656.xxx và hẹn đến khu vực sảnh toà nhà S2.09 Khu đô thị V giao toàn bộ số ma túy trên và lấy tiền 3.500.000 đồng. H2 sử dụng số điện thoại 0337.419.xxx gọi đến số điện thoại 0352.656.xxx của T3 hẹn đến sảnh toà nhà S2.09 Khu đô thị V để lấy ma túy. Khoảng 18 giờ cùng ngày khi H2 ở sảnh S Khu đô thị V gặp người mua ma túy là Vũ Văn T4, H2 chưa kịp bán ma túy cho T4 thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng.
Nhưng tại cơ quan điều tra: Anh Vũ Văn T4 khai chỉ liên hệ qua zalo “A Vin” để mua ma túy, không biết tên tuổi địa chỉ người bán ma túy, không quen biết với Nguyễn Văn Đ. Bị cáo Nguyễn Văn Đ sử dụng số điện thoại 0973.836.xxx, không thừa nhận ngày 11/8/2023 đưa ma túy cho H2 bán, không sử dụng số điện thoại 0976.811.xxx mà qua tra cứu xác định chủ thuê bao là chị Nguyễn Thị H5, sinh 1974, trú tại Thôn I, Sông K, Q, Quảng Ninh. Chị H5 khai không sử dụng số điện thoại trên, không biết Nguyễn Văn Đ. Do vậy ngoài lời khai của Đinh Văn H2 không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ buộc Đ cùng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn Đ do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ.
Đối với hành vi của Trần Bích H1 và Đinh Văn H2 đã được Toà án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử tại bản án số 27/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 đã có hiệu lực pháp luật.
Đối với vật chứng vụ án đã được giải quyết theo Quyết định của bản án số 27/HS-ST ngày 19/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Gia Lâm. Do vậy không xem xét giải quyết.
Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda SH màu đỏ không đeo BKS, số máy: JF42E0039289, số khung: RLHJF4212DY039230, Công an xã Đ thu giữ ngày 20/4/2024 tại khu vực Khu đô thị V, Đ, G, Hà Nội và bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện G. Theo bị can Nguyễn Văn Đ khai chiếc xe máy trên là của Đ mua của một người đàn ông trên mạng xã hội vào khoảng tháng 12/2022. Khi mua xe đeo BKS 29C1-339.50 và có giấy tờ xe nhưng trong quá trình sử dụng Đãng đã làm mất. Ngày 25/7/2023, Đ thấy H1 bị cơ quan Công an bắt giữ nên đã bỏ chiếc xe trên tại khu vực sảnh S2.17. Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện G đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 117/CT-VKSGL ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa hôm nay và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm p khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 14 năm 06 tháng tù đến 15 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave S màu nâu, số máy: JC52E1180250, số khung: RLHJC5268DY056379 và chiếc
xe máy kiểu dáng Honda SH màu đỏ không đeo BKS, số máy: JF42E0039289, số khung: RLHJF4212DY039230, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng trả cho bị cáo Đ.
Trong phần Tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định:
Hồi 20 giờ ngày 25/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn Đ chỉ đạo Trần Bích H1 đến căn hộ 2218 toà S1.02 Khu đô thị V thuộc Đa Tốn, G, Hà Nội lấy 36,532 gam ma túy Ketamine, 1,785 gam ma tuý Methamphetamine và 5,682 gam hỗn hợp ma tuý loại MDMA, Methamphetamine, NimetaZepan để bán cho Huỳnh Đức T1 kiếm lời, khi H1 đang giao ma túy tại sảnh tòa nhà S2.17 Khu đô thị V thuộc Đ, G, Hà Nội thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng.
Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 24/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn Đ chỉ đạo Đinh Văn H2 mang ma túy Ketamine cho Lương Thị Quỳnh M và Lý Thị B1
sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ F toà S2.17 Khu đô thị V thuộc xã Đ, G, Hà Nội.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Điều 251 quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;
Điều 255 quy định:
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên;
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được
hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự- sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Bị cáo Nguyễn Văn Đ thực hiện tội phạm với vai trò chủ mưa, thực hành tích cực nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với vai trò của bị cáo trong vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HSST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đã xử phạt Trần Bích H1 07 (B2) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/7/2023. Xử phạt Đinh Văn H2 07 (Bẩy) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 (Bẩy) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo H2 phải chấp hành hình phạt tù là 15(Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 11/8/2023.
Về nhân thân: Như vậy, bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích và 01 tiền sự đã hết thời hiện. Điều này chứng tỏ bị cáo đã được giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng cố tình phạm tội, cần áp dụng hình phạt tù giam tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục cũng như phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave S màu nâu, số máy: JC52E1180250, số khung: RLHJC5268DY056379 và chiếc xe máy kiểu dáng Honda SH màu đỏ không đeo BKS, số máy: JF42E0039289, số khung: RLHJF4212DY039230, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng trả cho bị cáo Đ.
[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[6] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 07 (Bẩy) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (T5) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 15 (Mười lăm) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave S màu nâu, số máy: JC52E1180250, số khung: RLHJC5268DY056379 và 01 (Một) chiếc xe máy kiểu dáng Honda SH màu đỏ không đeo BKS, số máy: JF42E0039289, số khung: RLHJF4212DY039230.
(Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày 26 tháng 6 năm 2024).
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cồ Khắc Đam |
Bản án số 123/2024/HSST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 123/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đ phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
